A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bàn về thời gian và không gian trong tác phẩm văn học

TỐNG DUY HẢI

Nếu hội họa, điêu khắc tái hiện sự vật một cách tĩnh tại, chớp lấy một khoảnh khắc nhất định của đối tượng và biểu hiện nó trong tương quan về không gian thì văn học chủ yếu tái hiện quá trình đời sống diễn ra trong thời gian. Trong cuốn Laocoon hay là giới hạn của hội họa và thơ ca, Gotthold Ephrain Lessing đã chỉ ra sự khác biệt giữa hội họa và thơ ca trên phương diện thời gian, không gian nghệ thuật. Ông cho rằng, hội họa sử dụng “các vật thể và màu sắc tồn tại trong không gian làm phương tiện và kí hiệu, còn thơ ca thì sử dụng các âm thanh phát ra từng tiếng lần lượt trong thời gian”. Như vậy so với các loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, văn học có khả năng to lớn trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận động, tái tạo dòng thời gian với những nhịp độ khác nhau. Sự vận động của thời gian trong tác phẩm văn học phản ánh nhịp độ vận động của cuộc sống. Có lúc trong một thời gian ngắn chứa chất biết bao sự kiện làm biến đổi nhanh chóng cuộc sống và đời người. Trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã dành hàng trăm trang viết về các sự kiện ở làng Đông Xá trong vụ sưu thuế diễn ra trong bốn ngày năm đêm ngắn ngủi. Còn Nam Cao lại miêu tả dòng thời gian chậm rãi, trì trệ đang bào mòn những cuộc đời của những trí thức nghèo như Thứ, như San. Thực chất việc tái hiện thời gian trong văn học là sự miêu tả sự vận động của cuộc sống, là tái hiện quan niệm của con người về sự tồn tại, là sự biểu hiện tâm lí của con người trước các biến cố, sự kiện. Lúc nhớ nhung khắc khoải, một phút đợi chờ có thể dài bằng mấy năm:

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dồn lại một ngày dài ghê

Còn lúc sống hạnh phúc bên nhau thì thời gian sao mà ngắn ngủi:

Ngày vui ngắn chẳng tầy gang

Trông ra ác đã ngậm gương non đoài

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Khi đọc tác phẩm văn học ta thường quên đi thời gian hiện thực, nhập vào tác phẩm, sống cùng với nhân vật, cùng chứng kiến con người và sự việc theo thời gian trong tác phẩm. Vì thế đang đọc giữa ban ngày mà cứ tưởng như đêm khuya lắm rồi: Quên hiện tại mà cứ nghĩ mình đang ở “ngày xửa ngày xưa” vào “đời Hùng Vương thứ mười tám” hay “năm Gia Tĩnh Triều Minh”. Do được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, nên thời gian trong tác phẩm văn học được cảm nhận và mô tả rất linh hoạt. Nguyễn Du đã dồn bốn mùa trong một câu thơ: Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân thì ngược lại, Chyngyz Torekulovich Aytmatov mô tả “Một ngày dài hơn thế kỉ”.

Thời gian trong cuộc đời là thời gian tuần tự, còn trong tác phẩm văn học, thời gian có thể đảo ngược quá khứ, xen lẫn ngày hôm nay và những ngày đã xa khuất ngàn năm trước, cũng như tưởng tượng ra cả ngày mai chưa đến. Thời gian trong tác phẩm văn học là thời gian tâm lí, không trùng khít với thời gian ngoài đời. Vì thế không nên hiểu thời gian ấy một cách máy móc, cứng nhắc và áp đặt. Khi nhà thơ viết: Hôm qua, hôm nay, ngày mai, dạo này, tháng trước, năm sau, dạo ấy, vào một đêm … thì không nên cố tìm xem đó là thời điểm cụ thể nào trong cuộc đời. Nếu như Hoàng Lộc viết:

Hôm qua còn theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Hôm nay đã chặt cành
Đắp cho người dưới mộ
(Viếng bạn)

thì rõ ràng không cần biết hôm qua và hôm nay là ngày nào, tháng nào mà chỉ biết sự việc xảy ra nhanh quá, bất ngờ quá, hôm qua mới thế, hôm nay đã thế, khiến người đọc bàng hoàng, xúc động.  

Thời gian nghệ thuật cũng mang tính tượng trưng. Khi nhắc tới ngày mai thường là tượng trưng cho tương lai, như khi Tố Hữu viết:

Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như áng mây mờ đêm nay
Cô ơi tháng rộng ngày dài
Mở lòng ra đón ngày mai huy hoàng.      

Hoàng hôn, chiều tà thường tượng trưng cho sự tàn lụi, sự kết thúc, cáo chung buồn bã. Không phải ngẫu nhiên hay do bí từ mà Nguyễn Du đã lặp lại chữ hoàng hôn và hôn hoàng trong một câu thơ: “Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng” để khái quát cả một đời Kiều đầy chuyện u buồn, tàn tạ. Ta có thể tìm thấy thời khắc này trong thơ Thôi Hiệu: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn”, trong thơ Bà Huyện Thanh Quan: “Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn”, trong thơ Huy Cận: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Ngược lại với hoàng hôn là bình minh. Bình minh, rạng đông thường tượng trưng cho cái đang lên, rạng rỡ, tươi sáng. Đó là khi Hồ Chí Minh viết:

Thuyền về trời đã rạng đông
Bao la nhuốm một màu hồng đẹp tươi

 

Là khi Nguyễn Đình Thi viết:

Trán cháy rực nghĩ trời đất mới

Lòng ta bát ngát ánh bình minh.

Mùa xuân thường tượng trưng cho tuổi trẻ, sức sống, giàu sinh lực, như khi Tố Hữu viết:

Trời hôm nay đầu xám ngắt màu đông

Ai cản được mùa xuân xanh tươi sáng

Ai cản được những đoàn chim quyết thắng

Sắp về đây tắm nắng xuân hồng?

Có rất nhiều cách thể hiện thời gian trong tác phẩm văn học. Không nhất thiết phải có các từ như sáng, trưa, chiều, tối hay xuân, hạ, thu, đông thì ta mới biết. Trong văn học cổ, một chiếc lá ngô đồng rụng xuống, ấy là mùa thu đã về; một tiếng kêu khắc khoải của chim cuốc báo hiệu hè đã sang. Khi Nguyễn Du tả cảnh:    

Cỏ non xanh rợn chân trời

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Thì ai chẳng biết đó là mùa xuân. Cũng như vậy đọc câu thơ Chinh phụ ngâm khúc:

Thấy nhàn, luống tưởng thư phong,

Nghe hơi sương, sắm áo bông sẵn sàng.

Ta đã cảm nhận được cái se sắt rét mướt, run rẩy của mùa đông đang tới. Khi Tố Hữu viết: “Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn” cũng là để chỉ thời gian đang trôi đi của một đêm và đó cũng có thể hiểu là các thời điểm của một đời người. Đọc câu thơ của Trần Hữu Thung: “Cam ba lần ra trái - Bưởi ba lần ra hoa” ta đều hiểu thế là thời gian ba năm đã trôi qua v.v…

Vì miêu tả thời gian trong ý thức, trong sự cảm thụ của con người mà văn học có thể “kéo căng” thời gian bằng cách miêu tả hàng loạt sự kiện dồn dập trong một khoảnh khắc nhất định và ngược lại văn học có thể dồn nén thời gian hàng ngàn năm trong một dòng trần thuật ngắn. Mặt khác, văn học còn có khả năng miêu tả mối liên hệ thời gian đa dạng, nhiều chiều, nhiều lớp. Nhà văn có thể miêu tả thời gian thuận chiều, đồng dạng, đồng nhịp với thời gian tự nhiên nhưng nhiều khi nhà văn lại miêu tả thời gian ngược chiều từ hiện tại trở về quá khứ rồi từ quá khứ đi tới tương lai. Và có lúc cả quá khứ, tương lai có thể đồng hiện trong một thời khắc của hiện tại. Chính vì thế mà văn học có thể chiếm lĩnh và tái hiện đời sống một cách đa dạng, sâu rộng mà các loại hình nghệ thuật như hội họa, điêu khắc không thể nào đạt được…

Trong văn học, không gian nghệ thuật cũng có những nét đặc thù. So với hội họa, điêu khắc thì văn học vấp phải nhiều khó khăn trong việc tái hiện đồng thời tương quan của các sự vật trong không gian. Gotthold Ephrain Lessing đã từng chỉ ra chỗ yếu đó của văn học: “Những gì mà con mắt nắm bắt được tức khắc thì nhà thơ phải trình bày cho chúng ta chậm rãi, theo từng bộ phận, và thường kết quả là, khi cảm thụ bộ phận sau thì chúng ta đã quên mất bộ phận trước. Ở đây sự đối chiếu các vật thể trong không gian đã vấp phải tính liên tục của lời nói trong thời gian”. Nhưng bù vào những hạn chế đó, văn học lại có khả năng tái hiện không gian trong tính vận động và không gian mang tính quan niệm của con người.

Trong điêu khắc, hội họa không gian thường mang sắc thái tĩnh tại, nếu tái hiện sự vận động cũng chỉ là sự vận động ở dạng tư thế. Còn trong tác phẩm văn học, không gian được miêu tả trong sự vận động của nó. Huy Cận đã từng miêu tả một cảnh bình minh trên biển với cuộc chạy đua giữa đoàn thuyền đánh cá và mặt trời:

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới…

(Đoàn thuyền đánh cá)

Hồ Chí Minh cũng tái hiện sự xuất hiện của bình minh qua sự đổi thay của ánh sáng và màu sắc:

Phương đông màu trắng chuyển sang hồng

Bóng tối đêm tàn chốc sạch không

(Giải đi sớm)

Còn Thạch Lam lại miêu tả rất sinh động không gian buổi hoàng hôn ở phố huyện trong quá trình vận động của nó. Ban đầu “phương tây đỏ rực như lửa cháy”, sau đó “dãy tre làng trước mặt đen lại”, cuối cùng “các nhà đã lên đèn” (Hai đứa trẻ). Trong tác phẩm văn học, nếu nhà văn dừng lại qúa lâu ở những bức tranh tĩnh tại sẽ dễ rơi vào tình trạng đơn điệu, thiếu sức sống.

Với chất liệu ngôn từ, nhà văn có thể dễ dàng chuyển từ không gian này tới một không gian khác mà không gây sự hụt hẫng, gián cách trong tâm trí người đọc. Nhờ bám vào đường dây sự kiện và các tuyến nhân vật mà nhà văn có thể kết dính nhiều mảng không gian khác nhau từ mặt đất đến bầu trời, từ biển cả đến núi rừng, từ miền đất này đến miền đất khác. Trong bài Ta đi tới, Tố Hữu đã tái hiện một không gian rộng lớn của đất nước Việt Nam từ Hữu Nghị Quan đến Cà Mau, trong bài Vui thế, hôm nay, nhà thơ Tố Hữu lại tái hiện một không gian nhiều tầng nhiều lớp của đất trời giải phóng:

Tầng thấp, tầng cao, chiều dài, chiều rộng

Ôi Việt Nam yêu suốt một đời,

Nay mới được ôm Người trọn vẹn Người ơi!

Có thể nói, không gian trong tác phẩm văn học không bị một hạn chế nào. Chính đặc điểm này làm cho văn học có thể phản ánh đời sống trong tính đầy đủ và toàn vẹn của nó.

Trong hiện thực, không gian là hình thức tồn tại của vật chất; trong nghệ thuật, không gian là hình thức tồn tại của hình tượng. Ở đây, không gian không chỉ là môi trường tồn tại mà còn thâm nhập vào bản thân hình tượng và bộc lộ tính tư tưởng của hình tượng. Việc chiếm lĩnh và tái tạo không gian trong văn học không chỉ là hoạt động tái hiện thế giới mà còn là hoạt động biểu hiện, bộc lộ tư tưởng, tình cảm của con người. Không gian trong ca dao dân ca Việt Nam ngày xưa là không gian làng quê gần gũi thân thuộc với những thôn Đoài, thôn Đông, với những bờ ao, giếng nước, sân đình. Ngược lại không gian trong thơ ca bác học của các nho sĩ là không gian vũ trụ vời xa, vô tận với những núi cao, rừng thẳm, suối sâu, với những mây ngàn, hạc nội và chòm sao Bắc đẩu xa xăm…, còn trong giai đoạn 1930-1945, các nhà thơ lãng mạn với tâm trạng buồn bã và thái độ siêu thoát lại tìm đến không gian của chiều tàn, của chốn Thiên Thai, của thế giới vầng trăng huyền ảo và có lúc đến cả với chốn địa ngục đầy những hồn ma, xương máu, đến thơ ca cách mạng trong giai đoạn này lại hướng đến ngày mai với một không gian đầy niềm vui và ánh sáng của thời đại mới. Văn học hiện thực phê phán thiên về mặt miêu tả mặt tối của hiện thực, miêu tả những kiếp người nghèo khổ, bế tắc, tái hiện những không gian nhỏ hẹp, quẩn quanh, đầy những giới hạn ngăn chặn, vây bủa. Từ cái lò gạch cũ bỏ không mở ra, khép lại một kiếp sống Chí Phèo, từ không gian tiêu điều tù đọng của làng Đông Xá và bóng đêm vây bủa chị Dậu, từ gác trọ chật hẹp của trường tư và căn buồng tối tăm ẩm thấp của nhà ông Học như mốc lên, rỉ ra, cùng cuộc đời của những San, những Thứ; tất cả những không gian chật hẹp, tăm tối, quẩn quanh ấy góp phần phản ánh bản chất cuộc sống xã hội.

Không gian trong văn học vừa là hình ảnh của không gian vật lí vừa là sự hiện diện của không gian tâm tưởng. Đó là một không gian nối liền bằng những sự vật, sự kiện liên quan đến tiêu điểm trung tâm là con người trong qúa trình vận động của thời gian. Qua không gian ấy, con người có được một hình thức biểu hiện tư tưởng - thẩm mĩ, tình cảm, cảm xúc, một phương thức chiếm lĩnh hiện thực đời sống một cách đặc thù.

Như thế thời gian và không gian trong tác phẩm văn học đều có rất nhiều cách thức biểu hiện khác nhau. Đấy chính là chỗ để các nhà thơ, nhà văn thể hiện sự sáng tạo và những cách cảm nhận độc đáo, riêng biệt trong tác phẩm của mình.


Tin liên quan