A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Mấy vấn đề về thơ

NGUYỄN PHƯƠNG HÀ

  1. Về tứ thơ      

Từ xưa đến nay, thơ muôn đời vẫn là “cây đàn muôn điệu” của tâm hồn con người, bởi thơ là một thể loại thuộc phương thức trữ tình, bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người làm thơ trước những hiện tượng xã hội và nhân sinh. Vượt thoát ra khỏi đặc trưng cơ bản ấy, văn bản sẽ không còn là thơ nữa mà trở thành một thứ diễn ngôn nào đó. Nhà thơ Rasul Gamzatov đã viết: “Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt đắng cay”. Trong thơ, tình cảm được bộc lộ một cách trực tiếp nên hết sức sắc sảo và gợi cảm. Thơ chỉ xuất hiện khi cảm xúc đã thật đầy, thật sôi trào và ám ảnh, thôi thúc phải viết ra, phải được giãi bày. Cảm xúc, tình cảm trong thơ thường được bộc lộ một cách tập trung trong một khoảnh khắc nhất định trước một hiện tượng đời sống làm cho tâm hồn nhà thơ rung động nhất. Cũng cần thấy rằng, tình cảm, cảm xúc trong thơ phải hết sức chân thật, mãnh liệt và nồng cháy. Thơ không chấp nhận sự giả dối và khiên cưỡng, cảm xúc không thật, không chín thì ý thơ gượng gạo, dù tư tưởng có tốt đến mấy cũng khó thuyết phục được người đọc. Bài thơ Mẹ tôi chửi kẻ trộm của Tòng Văn Hân mới đây được trao giải B (giải cao nhất) cuộc thi thơ của Báo Văn nghệ đã tạo nên những phản ứng trái chiều gay gắt, chính là vì vậy.

Cảm xúc, tình cảm trong thơ kết hợp với lý trí với tư tưởng; Tư tưởng làm cho xúc cảm, tình cảm thêm đúng đắn và sâu sắc, làm cho thơ có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với tâm hồn và trí tuệ của người đọc. Tuy nhiên, trí tuệ, triết lý chỉ cần một dung lượng nhất định và phải hoà quyện trong hình tượng cảm xúc, nhờ thế, trí tuệ mà không khô khan, giáo điều, triết lý mà vẫn đằm thắm tình người. Nếu thiên về triết lý mà thiếu hình tượng cảm xúc, tác phẩm chỉ còn là bộ xương vô hồn, khi đó người ta tìm đọc Hegel, Ludwig Feuerbach, Karl Marx chứ đọc thơ làm gì cho lẩm cẩm, rối rắm.

Cái đẹp của những hiện tượng đời sống làm cho tâm hồn con người rung động tạo ra chất thơ (cảm xúc, tình cảm kết hợp với lý trí, tư tưởng), nhưng trong thơ, chất thơ phải đậm đặc và phải tìm được một hình ảnh, một biểu tượng độc đáo nào đó để thể hiện (người ta gọi là cấu tứ), tạo thành hình tượng thơ. Nhà thơ Rabindranath Tagor cho rằng:“Khi tình cảm tự tìm cho mình một hình thức để bộc lộ ra ngoài, chúng ta có thơ (1). Tìm được tứ thơ là việc khó khăn nhất của người làm thơ. Khi chưa bắt gặp cái “hình” để bộc lộ (nghĩa là chưa có tứ thơ), chất thơ còn mơ hồ trong tâm tưởng của nhà thơ, chỉ khi gặp được cái “hình” thì chất thơ mới ùa ra, trào dâng, chan chứa, tạo thành hình tượng. Nhà thơ Vũ Cao đã gặp cái hình “Núi đôi” và dùng nó để khắc sâu niềm đau đớn, xót xa khôn cùng vì sự mất mát tàn khốc trong chiến tranh qua câu chuyện kể của một người lính: “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em!”(Núi đôi - Vũ Cao). Cảm xúc tình yêu mãnh liệt, khát vọng cháy hết mình cho tình yêu của người phụ nữ được ẩn mình qua hình tượng “Sóng” của Xuân Quỳnh; niềm cảm thông sâu sắc với nỗi đau khổ, bề tắc của cha ông xưa của nhà thơ Huy Cận đã tìm được cái “hình” để thể hiện, đó là hình ảnh các pho tượng La Hán ở chùa Tây Phương. Xúc động khi thấy phần mộ của nhà thơ Nguyễn Du cũng chỉ là một nấm mồ đơn sơ, hoang lạnh bên cạnh những nấm mồ của “thập loại chúng sinh” mà hai trăm năm trước, Nguyễn Du đã từng thương cảm, nhà thơ Vương Trọng đã viết những dòng thơ như cứa vào lòng người nỗi xót thương, ân hận, tê tái: “Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn - Tiên Điền nằm đây/ Ngẩng trời cao, cúi đất dày/ Cắn môi tay nắm bàn tay của mình/ Một vùng cồn bãi trống trênh/ Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề.” (Bên mộ cụ Nguyễn Du). Tứ thơ rất độc đáo đã được tạo ra nhờ sự kết hợp cảm xúc trực tiếp của Vương Trọng với những hình ảnh liên tưởng từ câu thơ miêu tả nấm mồ Đạm Tiên trong Truyện Kiều và hình ảnh trong bài Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du. Là một người lính đã vào sinh ra tử ở chiến trường Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa 1972, sau chiến tranh, Lê Bá Dương đã trở về chiến trường xưa, thắp hương và thả hoa trên sông Thạch Hãn để tưởng nhớ đồng đội đã hy sinh. Tứ thơ của bài Lời người bên sông là nỗi xúc động vỡ oà như tiếng khóc đau đớn, xót thương cho biết bao người trẻ tuổi đã nằm xuống trên mảnh đất này trong cuộc chiến đấu vì độc lập tự do, kết hợp với hình ảnh con đò và dòng sông chập chờn sóng nước: “Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm”. Tứ thơ là linh hồn của bài thơ, là điều kiện tiên quyết để có bài thơ hay và cũng là tiêu chí hàng đầu để đánh giá một bài thơ. Nếu không có tứ thơ, văn bản sẽ chỉ là một bài văn vần với những cảm xúc nông cạn, câu chữ rời rạc, vu vơ, chẳng đọng lại gì. Hiện tượng này khá phổ biến trong thơ trên các báo và mạng xã hội hiện nay. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh”. Ở đây, chúng ta nên hiểu rằng, giản dị chứ không phải là đơn giản. Giản dị là không khoa trương, không hình thức cầu kỳ, sáo rỗng hay làm xiếc ngôn từ. Giản dị là sự chân thực, tự nhiên trong cảm xúc và ngôn từ nhưng phải sáng tạo, nếu chỉ nôm na đơn giản thì thơ sẽ thành vè. Để có được sức ám ảnh cho thơ, nhà thơ phải có sự phát hiện tinh tế để sáng tạo tứ thơ độc đáo, hình tượng thơ giàu ý nghĩa, có sức lay động, nhịp điệu phong phú, tạo được dư ba.

  1. Về nhịp điệu của thơ

Một đặc điểm nổi bật của ngôn ngữ thơ là nhịp điệu. Thơ thể hiện trực tiếp những cung bậc tình cảm, xúc động của con người. Vì vậy, ngôn ngữ thơ phải được tổ chức một cách đặc biệt để thể hiện nhịp điệu của tâm hồn. Nhịp điệu của tâm hồn được thể hiện bằng nghệ thuật ngôn từ chính là nhịp điệu của thơ. Phương Đông hay Phương Tây, châu Âu hay châu Mỹ, thơ Việt hay thơ Pháp, ở đâu thơ cũng mang đặc điểm ấy, vì nhịp điệu không chỉ là hình thức mà chính là sự sống còn của thơ. Nhà mỹ học M. Arnadov khẳng định: “Trong thơ ca, nhạc tính xuyên thấm không chỉ hình thức mà cả nội dung, không chỉ nhịp điệu âm thanh mà cả tư tưởng chủ đạo”(2). Nhà thơ Heinrich Haine (Đức) cho rằng: “Tâm hồn là điềm mách bảo vần luật… Chỉ có vần luật bên trong hoà hợp với nhịp đập của con tim là có ý nghĩa”(3). Vần là một yếu tố tạo nhịp điệu, là nhân tố tạo nên sự thống nhất âm hưởng của bài thơ; thơ có thể không vần nhưng không thể thiếu nhịp điệu. Sự phân loại các thể thơ truyền thống cũng xuất phát từ cấu trúc nhịp điệu của những loại thơ ấy (tất nhiên còn nhiều tiêu chí khác). Nhịp điệu thơ thể hiện những cung bậc cảm xúc của nhà thơ, tạo nên sức rung động, lan toả và đồng vọng trong lòng người đọc, tạo âm hưởng vang vọng và làm cho thơ thực sự trở thành tiếng lòng thầm kín của con người. Trong thơ, chúng ta có thể bắt gặp nhịp điệu gấp gáp, dồn dập, nhịp điệu khoan thai, dìu dặt, nhịp điệu trầm lắng, thiết tha, nhịp điệu nhảy nhót, nhí nhảnh vv… Mỗi bài thơ đều có nhịp điệu riêng, âm điệu riêng cũng như hình tượng cảm xúc riêng. Nhịp điệu được tạo ra nhờ sự cấu tạo và sắp xếp các dòng thơ, số âm tiết trong mỗi dòng, những chỗ ngắt, ngừng, nhấn giọng, sự phối hợp hài hoà giữa các thanh bằng - trắc, cao - thấp, giữa vần lưng và vần chân…  Nhịp điệu còn được tạo nhà nhờ tính trùng điệp của các thành phần ngôn ngữ, các biện pháp tu từ nghệ thuật như: từ láy, điệp vần, điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp, phép đối…

  1. Về sự đổi mới thơ hiện nay         

 Từ năm 1986, nhất là từ đầu thế kỷ XXI đến nay, sự ảnh hưởng của triết học, mỹ học chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại phương Tây đối với văn học Việt Nam ngày càng sâu sắc, làm cho văn học nói chung, thơ ca nói riêng chuyển mình đổi mới. Trong xu hướng đổi mới hiện nay, nhiều nhà thơ đã tìm kiếm, khám phá những cách biểu hiện mới, chủ yếu theo khuynh hướng thơ tượng trưng, siêu thực. Ở xu hướng này, cái “tôi” cá nhân xuất hiện trong thơ Việt Nam từ thời Thơ mới (1932 – 1945) đã mất dần địa vị độc tôn, bị lu mờ để trở thành cái “tôi” đa ngã. Một số nhà thơ đã chú ý đến thế giới cảm thấy trong giấc mơ, trong tiềm thức, ảo giác, mê sảng, hướng về thế giới vô thức, đề cao ngẫu hứng, chú trọng ghi nhận những ấn tượng mơ hồ, huyền hoặc, những ảo ảnh mỏng manh, chơi vơi lướt qua trong đầu, sáng tạo những chi tiết, hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng đa nghĩa, bất định, nhiều khi bí ẩn. Những sự đổi mới trong việc ngắt dòng thơ (kể cả thơ lục bát), không dùng dấu câu, không viết hoa đầu dòng, ngắt giọng theo nhịp rung động của cảm xúc, sự mời gọi của tâm tưởng, sử dụng phép chuyển nghĩa mới lạ, siêu cảm giác, sáng tạo nhiều từ ngữ mới có sức biểu hiện tinh tế. Nhiều nhà thơ, nhất là các nhà thơ trẻ đã ra sức tìm tòi, đổi mới thơ cả về phương diện cấu tứ và ngôn từ, tạo nên một xu hướng thơ mới, đa thanh, đa sắc. Cách tân văn học, đổi mới thơ ca là xu thế tất yếu trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, góp phần làm cho văn học Việt Nam phát triển đa dạng, phong phú, có thể hội nhập sâu rộng với văn chương thế giới. Mặt khác, tầm đón nhận của độc giả ngày nay cũng đã đổi mới và nâng cao, đòi hỏi sáng tác cũng phải đổi mới để đáp ứng yêu cầu của thời đại, của người đọc. Vấn đề đặt ra và đang được tranh luận là cách tân đối với thơ như thế nào? Theo tôi, đổi mới thơ ca phải trên cơ sở truyền thống của văn học dân tộc, lấy lấy thơ ca dân tộc làm căn nền, đổi mới là làm cho thơ phát triển ngày càng hiện đại, có giá trị thẩm mỹ cao. Đổi mới đến mức nào đi nữa cũng phải để tác phẩm không vượt ra ngoài đặc trưng bản chất của thơ (tứ thơ, nhịp điệu thơ), nghĩa là phải làm phong phú tứ thơ, hình ảnh và nhịp điệu thơ để tăng thêm sức biểu hiện và chinh phục của thơ. Hiện nay có hiện tượng một số cây bút vì nhiệt tình đổi mới một cách thái quá, đã làm cho thơ trở nên khác lạ, bí hiểm, khó hiểu như đánh đố người đọc, để người đọc phải mò mẫm, mơ hồ phỏng đoán, tạo cảm giác mệt mỏi, ức chế. Vả lại, số người cảm nhận và hiểu được phần nào những bài thơ ấy chỉ là một số rất ít “tao nhân mặc khách”, tìm đâu ra sự đồng cảm, đồng điệu của số đông người đọc và thưởng thức thơ. Thơ viết ra nhiều nhưng không tìm được sự đồng cảm, đồng điệu, không tìm được tiếng nói tri âm, rồi sẽ rơi dần vào quên lãng. Vì vậy, những bài thơ thuộc loại “bất khả giải” ấy, nói cho cùng, cũng chẳng có mấy giá trị. Thơ sẽ không là gì cả nếu nó không là tiếng hát của tâm hồn con người, không làm rung động cảm xúc và bồi đắp những giá trị nhân văn đối với người đọc.

*******

(1) Nhiều tác giả, Mười nhà thơ lớn của thế kỷ, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1982

(2) M. Arnaudov, Tâm lý học sáng tạo văn học, NXB Văn học, 1978, tr 528

(3) Dẫn theo M. Arnaudov, Tâm lý học sáng tạo văn học (sđd)


Tin liên quan