A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nguyễn Khoa Điềm vẽ đất nước bằng thơ

TRƯƠNG THỊ THÚY

Với đoạn trích Đất nước (trích trong trường ca Mặt đường khát vọng), Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo khảm vào tâm trí người đọc một bức tranh về đất nước. Không màu vẽ, không cọ vẽ. Tác giả từ chối hết thảy những thứ thuộc về một bức vẽ thông thường tác động đến con người qua tiếp xúc thị giác. Ông hào hứng với bức vẽ đất nước của riêng mình được tạo lên bằng chất liệu ngôn từ.

Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu bức tranh đất nước một cách rất tự nhiên bằng nét thơ đầu tiên, gần gũi như lời thủ thỉ chuyện trò:

“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa…” mẹ thường hay kể.

Và rồi mạch hứng khởi cho một bức tranh được bắt đầu. Các nét vẽ hiện ra…

1. Nét vẽ phong tục tập quán

“Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn. Đó là từ khi nào? Ai mà biết được đích xác là ngày nào. Chỉ biết rằng tận “ngày xửa ngày xưa…” dân mình đã có tục ăn trầu, nhuộm răng. Miếng trầu quả cau luôn được dùng làm đầu câu chuyện, người nói cười, hơi trầu bay thơm cay nồng quyện. Chuyện thêm vui, tình thêm gắn bó. Rồi “cha mẹ thương nhau”, cũng phải có cau, có trầu trong ngày cưới hỏi để thể hiện tình nồng duyên thắm.

“Tóc mẹ thì bới sau đầu

Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn

Cái kèo, cái cột thành tên

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng

Đất Nước có từ ngày đó…”

            Nhẹ nhàng, bình dị. Ngôn từ cứ tự nhiên như vậy mà gợi cho người đọc cảm giác gần gũi nhất. Kiểu như tác giả đang trực tiếp nhìn vào mắt người đối diện “thủ thỉ” bằng tất cả tình cảm chân thành của mình. Cuộn tóc búi sau đầu của mẹ; cách đặt tên cây kèo, cây cột khi dựng cửa, xây nhà; rồi lao động sản xuất, làm ra hạt gạo trắng ngần phải trải qua bao cơ cực vất vả “một nắng hai sương”, phải “xay, giã, giần, sàng”. Rồi cách giữ hạt giống cho vụ mùa sau, cách giữ lửa để ấm nồng gian bếp, để sưởi ấm những ngày đông giá rét cũng được tác giả khéo léo gợi ra: “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng/ Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi”.

Đó là kinh nghiệm cuộc sống được truyền dạy từ bao đời, để làm nên cái riêng biệt của đất nước mình.

2. Nét vẽ ca dao tục ngữ, những câu chuyện “ngày xửa ngày xưa”

            Vẫn là những điều bắt đầu từ rất xưa và còn mãi cho đến tận bây giờ. Như một mạch nguồn vô tận, vô hình nhưng chắc chắn, ca dao, tục ngữ, chuyện kể đã góp phần làm nên hình dáng Việt của ngày xưa và gìn giữ đến ngày nay.

Nét vẽ ca dao, tục ngữ mềm mại nối quá khứ với hiện tại.

Những lời ru của mẹ, lời kể của bà chính là bài học được đúc rút từ kinh nghiệm sống bao đời, là tình nghĩa mà con người muốn bày tỏ với nhau. Khi nhắc đến tình cảm mẹ cha qua hình ảnh “gừng cay muối mặn”, tác giả đã khéo léo gợi cho người đọc nhớ về những câu ca dao thuở trước: “Muối ba năm muối đang còn mặn/ Gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta nghĩa nặng tình dày/ Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”.

Chắc hẳn khi đặt bút với nét vẽ “em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” tác giả cũng đang nhớ đến bài ca dao Khăn thương nhớ ai như người đọc khi đọc câu thơ ấy.

Hay ý thơ “Hằng năm ăn đâu nằm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ” lại gợi người đọc nhớ về câu “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba”. Nhớ ngày giỗ Tổ là nhớ về nguồn cội để biết tri ân bao công lao của cha ông thuở trước, để biết vun thắm thêm nghĩa đồng bào người Việt, biết gắng công dựng xây đất nước ngày càng giàu đẹp hơn.

Xuyên suốt “bức tranh” Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, người đọc đều tìm thấy hình bóng của những câu ca dao, giăng mắc niềm thương, gợi hình ảnh con người đắm say trong tình yêu “Yêu em từ thuở trong nôi” (Yêu em từ thuở trong nôi/ Em nằm em khóc, anh ngồi anh ru – ca dao); con người biết quý trọng tình nghĩa “biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội” (Cầm vàng mà lội qua sông/ Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng – ca dao); con người kiên trì và quyết liệt trong chiến đấu “Biết trồng tre đợi ngày thành gậy/ Đi trả thù mà không sợ dài lâu” (Thù này ắt hẳn dài lâu/ Trồng tre thành gậy, gặp đâu đánh què – ca dao).

Nhẹ đưa nét bút gợi về những câu chuyện ngày xưa.

Đất nước mình bao đời chống giặc ngoại xâm. Từ những ngày ông cha ta khai thiên lập địa đã bị ngoại bang nhòm ngó. Chuyện đứng lên để bảo vệ nhân dân bờ cõi là lẽ đương nhiên. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói: “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gương, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Câu nói đó của Bác nhằm ý dặn dò, để chiến đấu bảo vệ mình khỏi bầy sói lang, bất cứ thứ gì trong tay cũng có thể trở thành vũ khí. Đó chính là bản lĩnh của đất nước mình: “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”. Từ cái thuở “ngày xửa ngày xưa” đó, cậu bé Gióng của làng Phù Đổng đã biết lấy tre quật vào quân thù khi roi sắt gẫy. Truyện Thánh Gióng như một lời nhắc nhở dân mình “không có súng gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc” (Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến – Hồ Chí Minh); hay “chúng nó đã cầm súng thì mình phải cầm giáo” (Rừng xà nu – Nguyễn Trung Thành).

Miếng trầu bây giờ bà ăn” gợi liên tưởng đến Sự tích Trầu cau thuở nào. Con người Việt luôn vậy, tình cảm mặn nồng, thủy chung như nhất. Làm sao để vẹn nghĩa anh em, trọn tình chồng vợ? Hóa đá, hóa cau, hóa trầu keo sơn gắn bó, thắm thiết không rời. Chỉ với một câu thơ “Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” cũng đủ gợi cho người đọc bao liên tưởng về nguồn cội. Nguồn cội đó bắt đầu từ khi “Lạc Long Quân và Âu Cơ/ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”, rồi trăm trứng nở ra trăm con, lớn lên chia nhau cai quản các phương trên rừng dưới biển. Sự tích Con Rồng cháu Tiên cứ tự nhiên neo vào hồn người Việt một niềm thương về hai chữ đồng bào.

3. Nét vẽ các địa danh, vùng đất

Nguyễn Khoa Điềm không định vị đất nước bằng các đường nét địa lý như trên bản đồ, không định lượng dài rộng, không biên giới đông tây. Ông gọi tên đất nước bằng các địa danh gần gũi, thân thuộc với Nhân dân bao đời.

Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những hòn núi Vọng Phu”. Những hòn núi Vọng Phu ở Đồng Đăng, Lạng Sơn, Bình Định, Tuy Hòa,… và nhiều nơi hơn thế nữa đã tạc vào dáng hình đất nước hình bóng người vợ chờ chồng còn mãi với thời gian.

Hòn Trống Mái ở Thanh Hóa, Hạ Long hay ở đâu chăng nữa cũng đều nhằm khẳng định ước mơ về một tình yêu vĩnh cửu, trường tồn. Rồi các nét vẽ về những ao đầm, ruộng vườn bờ bãi, núi non, sông suối cứ lần lượt hiện ra trên trang thơ điểm tô đất nước:

Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm

Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình những núi Bút, non Nghiên

Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh

Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm

Đó là đất nước. Một đất nước gần gũi thân quen, bình dị mà nên thơ. Một đất nước được đắp bồi từ bao cuộc đời gắng sức dựng xây. Từ những ngày các vua Hùng đi khai thiên lập địa, dựng nên nhà nước Văn Lang, cho đến bốn ngàn năm sau thì: “Ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi/ Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha” “đi đâu ta cũng thấy/ Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…”.

Tác giả không dụng công tô vẽ một vùng đất riêng biệt nào bởi tất cả đều mang “một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha”. Nét vẽ đã dừng lại mà niềm tự hào như vẫn còn ngân nga mãi.

4. Nét vẽ con người

Để hoàn thiện bức tranh Đất nước, không thể thiếu hình dáng con người. Đó không chỉ là những người anh hùng “cả anh và em đều nhớ” mà còn cả những người “sống và chết/ Giản dị và bình tâm/ Không ai nhớ mặt đặt tên”. Nhưng tất cả đã góp phần “làm ra Đất Nước”.

Đó là những con người thủy chung tình nghĩa trong tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng như “anh”, như “em”, như “cha”, như “mẹ”. Đó là những con người biết nhớ về nguồn cội “Lạc Long Quân và Âu Cơ/ Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng”, để rồi “Hằng năm ăn đâu nằm đâu/ Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ”.

Đó là những con người biết xử lý hài hòa mối quan hệ giữa chung và riêng, giữa cá nhân và đất nước để tạo dựng sức mạnh đoàn kết trong dựng xây và bảo vệ Tổ quốc: “Khi hai đứa cầm tay/ Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm/ Khi chúng ta cầm tay mọi người/ Đất Nước vẹn tròn to lớn”.

Đó là những con người chăm chỉ, bình dị trong lao độn “Cần cù làm lụng”, “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng/ Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi/ Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói/ Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân/ Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái”; nhưng cũng sẵn sàng đứng lên đánh đuổi giặc thù để bảo vệ biên cương bờ cõi: “ ngoại xâm thì chống ngoại xâm/ Có nội thù thì vùng lên đánh bại”, “Khi có giặc người con trai ra trận/ Người con gái trở về nuôi cái cùng con/ ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”. Tất cả xuất phát từ lòng yêu nước – một mạch nguồn truyền thống âm thầm chảy mãi trong huyết quản của mỗi người, để khi cần sẽ trỗi dậy thành lời thề “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”.

Nguyễn Khoa Điềm hoàn thành bức vẽ của mình với những ngôn từ mộc mạc, bình dị. Bức tranh của nhà thơ đi vào lòng độc giả với một niềm kiêu hãnh vô biên về một đất nước Nhân dân có trách phận của mình trong đó. Để rồi nhớ mãi lời nhắc nhắn đầy chân tình, thiết tha mà tác giả gửi gắm:

Em gơi em Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên Đất Nước muôn đời…


Tin liên quan