A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài thơ "Chị dâu" - Lời bình của Lê Thành Văn

 Lê Thành Văn

Chị dâu

Lớn lên cách mấy bờ rào

Một ngày vui, chị bước vào nhà em

Áo cánh nâu, quần lụa đen

Cặp ba lá, đường ngôi nghiêng mái đầu

 

Nhà chồng, chồng ở nhà đâu

Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều

Làm dâu gặp phải cảnh nghèo

Đôi bàn tay chị chống chèo lo toan

 

Quê mình cái nắng chang chang

Trận mưa tháng tám lụt sang tháng mười

Khi mưa dầm, lúc nắng phơi

Âm thầm một chị qua thời trẻ trung

 

Bữa cơm em út quay vòng

Đầu nồi, đơm xới tay không kịp rời

Nhớ ngày giáp hạt chị ơi

Cả nhà trừ bữa một nồi canh rau

 

Nghĩ mà mà thương lắm chị dâu

Chiều mưa gạo hết, mẹ đau cuối giường

Em ngồi đôi mắt nhòa sương

Nón tơi cắp rá ngang vườn chị đi

Chiều ơi mưa mãi làm gì

Hoàng hôn đừng xuống trước khi chị về!

 

Em vào đại học xa quê

Đi biền biệt những mùa hè chiến tranh

Rồi yêu, rồi lập gia đình

Quê nhà tình chị giữ dành không vơi

Dù thư không viết một lời

Em về, chị vẫn là người chị xưa

Bàn chân bấm ngón đường mưa

Bữa ăn thêm quả trứng mua xóm giềng...

 

Tóc giờ sợi bạc đã chen

Con đầu sinh cháu, chị lên bậc bà

Em về, em lại đi xa

Canh tư chị thức bếp nhà lửa nhen

Tiễn đưa, chân chị không quen

Gói cơm nếp lạc theo em lên tàu

 

Ngoái nhìn núi dựng phía sau

Em tìm dáng chị cuối màu trời xanh.

Vương Trọng

 

Lời bình của Lê Thành Văn

 

Thơ bao giờ cũng là điệu hồn cất lên từ những cảm xúc đã lắng đọng thành nỗi niềm và sẽ mãi ám ảnh không nguôi suốt cuộc đời thi sĩ. Thơ hay thường có độ “chín” về nội dung tư tưởng và cả phẩm chất nghệ thuật là nhờ thế. Đề tài càng quen thuộc, thơ càng cần có sự khám phá, khai mở ở các vỉa tầng thẳm sâu mới mong chiếm được cảm tình bạn đọc. Hình tượng người phụ nữ trong thơ Việt Nam cổ kim xuất hiện đậm đặc nhưng không nhiều bài lưu lại hậu thế cũng vì lý do ấy. Chọn hình tượng người chị dâu vừa là trở lực nhưng lại khá độc đáo, hấp dẫn về mặt đề tài, điều đó đã giúp nhà thơ Vương Trọng có được một bài thơ hay vượt qua thời gian, lắng sâu vào tâm thức người đọc hơn ba chục năm qua. Thi phẩm khắc họa vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất cao quý của người chị không cùng huyết thống nhưng sâu nặng nghĩa tình với gia đình nhà chồng suốt cả cuộc đời chịu thương chịu khó.

Nội dung bao trùm toàn bộ bài thơ “Chị dâu” được tác giả Vương Trọng phản ánh qua hình tượng người người phụ nữ từ lúc về làm dâu nhà chồng cho đến khi bước lên “chức bà” vẫn một tấm lòng yêu thương và hi sinh cao cả. Trải suốt chiều dài thời gian của một đời người, nhiều thứ có thể đổi thay, biến chuyển, nhưng trong tâm hồn người chị dâu kia, đức tính hi sinh và sự hiến dâng trọn vẹn cho gia đình nhà chồng vẫn không một chút chuyển lay. Những câu thơ gan ruột, đượm nồng cảm xúc, tha thiết đến rưng rưng cứ thế vỡ trào một cách tự nhiên như chính nhà thơ đang thầm thì tâm sự, giãi bày với niềm ngưỡng vọng, cảm phục và biết ơn sâu sắc về người chị dâu trong cuộc đời mình.

Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu hình ảnh “một ngày vui” khi người con gái láng giềng bước vào làm dâu gia đình nhà chồng với vẻ đẹp nền nã, mộc mạc nhưng vô cùng đáng yêu. Hai gia đình “cách mấy bờ rào”, nghĩa là ở rất gần nhau và đã hiểu hoàn cảnh của nhau lắm rồi. Thế nhưng, trong con mắt của đứa em chồng, người chị dâu hiện ra thật đẹp dù trang phục bình dị, dân dã trong ngày cưới: “Áo cánh nâu, quần lụa đen/ Cặp ba lá, đường ngôi nghiêng mái đầu”. Không quá nhiều chi tiết, chỉ cần điểm xuyết vừa đủ, nhà thơ Vương Trọng đã giúp người đọc hình dung một đám cưới ngày xưa nơi làng quê nghèo khó. “Cặp ba lá” là cái cặp tóc làm bằng ba miếng kim loại mỏng và dài kẹp chặt vào nhau để giữ tóc của người phụ nữ. Đấy, đám cưới xưa là thế, bây giờ nhiều bạn trẻ đọc lên e không hiểu, bởi lẽ thời nay người ta làm đầu tóc cô dâu khi về nhà chồng trông đẹp và lộng lẫy như công chúa từ hoàng cung bước ra. Người phụ nữ trong bài thơ lấy chồng nhưng hoàn cảnh nhà chồng quá thiếu thốn, vất vả khiến chị phải một tay “chèo chống”, lo toan khổ sở trăm bề. Người chồng “có ở nhà đâu” là một thực tế nhiều vùng quê ở miền Bắc trong những năm chiến tranh ác liệt, mẹ chồng lại thường xuyên ốm đau, em chồng đông đến nỗi “Bữa cơm em út quay vòng/ Đầu nồi, đơm xới tay không kịp rời”. Chừng ấy áp lực, sống ở gần nhà nhau, có lẽ người chị dâu đã quá hiểu, vậy mà chị vẫn quyết định lấy người con trai “trận mạc” ấy, “có ở nhà đâu” ấy càng khiến lòng ta xót xa, thương cảm: “Nhà chồng, chồng ở nhà đâu/ Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều/ Làm dâu gặp phải cảnh nghèo/ Đôi bàn tay chị chống chèo lo toan”.

Lần theo mạch tự sự - trữ tình của thi phẩm, nhà thơ Vương Trọng đã làm cho người đọc xúc động khi đưa ra hai cảnh huống điển hình mà người chị dâu phải đối mặt từ khi về nhà chồng. Một là, trong những bữa ăn ngày đói, thiếu thốn trông thật tội nghiệp khi cả nhà hết gạo, lòng tác giả rưng rưng hoài niệm nhớ về hình ảnh người chị dâu nhìn cả nhà ăn trừ bữa bằng nồi canh nấu toàn rau: “Nhớ ngày giáp hạt chị ơi/ Cả nhà trừ bữa một nồi canh rau”. Thêm nữa, người mẹ chồng ốm đau nằm ở cuối giường khiến đứa em chồng “đôi mắt nhòa sương”, tâm tư trĩu nặng: “Nghĩ mà thương lắm chị dâu/ Chiều mưa gạo hết, mẹ đau cuối giường”. Tất cả nỗi nhọc nhằn, khổ sở ấy chỉ có người chị dâu đứng ra gánh vác. Những câu thơ gan ruột, xót xa khi tác giả miêu tả hình ảnh người chị dâu cắp cái rá băng ngang vườn nhà trong dáng vẻ âu lo, tất tả đã khiến chúng ta đọc xong không sao cầm được nước mắt. Quả vậy, số phận người chị dâu là hiện thân cho biết bao người phụ nữ nghèo nơi miền quê lam lũ, không riêng gì xứ Nghệ quê hương tác giả mà trên khắp đất nước ta một thời gian khổ. Nhờ đó, Vương Trọng đã hạ xuống hai câu thơ mà theo tôi đã diễn tả thật xúc động tình cảm yêu thương, quý trọng của mình đối với chị dâu. Tiếng mưa rơi trong buổi chiều hoàng hôn hiện ra buồn ảo não, xa xót như tấc lòng thi nhân van lơn đến lay động đất trời: “Chiều ơi mưa mãi làm gì/ Hoàng hôn đừng xuống trước khi chị về!”.

Hình ảnh người chị dâu với những phẩm chất đáng quý ấy còn được hiện lên qua thời gian sau khi người em chồng đã lớn khôn bước vào giảng đường đại học, vào chiến trường bảo vệ tổ quốc và được trở về sau chiến tranh. Người chị dâu trước sau vẫn giữ nguyên vẻ đẹp tâm hồn và tình cảm yêu quý của mình đối với gia đình nhà chồng, nhất là những đứa em chồng cùng chị một thời trải qua gian nan, đói khổ. Trong cảm xúc chân thành của nhà thơ, ngoài sự tảo tần và đức hi sinh sâu nặng, tình cảm của chị dâu bao giờ cũng nồng sâu, kín đáo, không thích bộc bạch, phô trương ra bên ngoài: “Dù thư không viết một lời/ Em về, chị vẫn là người chị xưa”; hoặc: “Em về, em lại đi xa/ Canh tư chị thức bếp nhà lửa nhen/ Tiễn đưa chân chị không quen/ Gói cơm nếp lạc theo em lên tàu”. Chính mạch kể chuyện hết sức chân thành kết hợp với cảm xúc trữ tình tha thiết đã khiến cho hình tượng người chị dâu hiện lên vừa cụ thể, sống động nhưng lại có một sức khái quát về thân phận người phụ nữ Việt Nam trong một giai đoạn chiến tranh khốc liệt, đau thương nhưng vô cùng hào hùng của dân tộc ta.

Hai câu thơ kết bài là tâm sự luyến lưu của đứa em chồng khi chia tay người chị dâu bước lên tàu đi xa. Hình ảnh “núi dựng phía sau” lúc em nhìn ngoái lại đã gói ghém tư tưởng và tình cảm kính yêu lớn lao của tác giả đã được ẩn dụ hóa. Dáng người chị dâu khuất xa cuối màu trời xanh nhưng tâm hồn và đức hi sinh cao cả của chị vẫn mãi hiện lên ngời sáng, thanh khiết như dáng núi kia ngàn năm sừng sững. Chính vẻ đẹp tu từ ẩn dụ đã khái quát hình tượng người chị dâu hòa vào bóng dáng thiêng liêng muôn đời của người phụ nữ Việt Nam bất diệt: “Ngoái nhìn núi dựng phía sau/ Em tìm dáng chị cuối màu trời xanh”.

Bài thơ “Chị dâu” của Vương Trọng đã đạt được một số vẻ đẹp nghệ thuật nhờ sự tiếp thu từ truyền thống văn học, đồng thời mang đậm dấu ấn cá nhân và phong cách tác giả. Thể thơ lục bát nhuần nhuyễn, đậm chất ca dao nhưng giàu cá tính sáng tạo thông qua nhịp thơ, hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu...; tất cả điều đó đã góp phần thể hiện một cách chân thành tình cảm yêu thương, kính trọng của tác giả đối với người chị dâu của mình. Nhiều câu thơ hay đến sững sờ, cảm động và thấm thía khiến chúng ta đọc lên đều rơm rơm mắt, dù được tác giả viết một cách tự nhiên, không trau chuốt cầu kỳ câu chữ, ví như: “Bữa cơm em út quay vòng/ Đầu nồi, đơm xới tay không kịp rời”; “Nhà chồng, chồng ở nhà đâu/ Em chồng đông, mẹ chồng đau ốm nhiều”; “Chiều ơi mưa mãi làm gì/ Hoàng hôn đừng xuống trước khi chị về!”... Ngoài ra, nhờ giá trị hiện thực cuộc sống nơi vùng quê xứ Nghệ, hoàn cảnh đất nước một thời kháng chiến gian lao và sự trải nghiệm từ chính cuộc đời tác giả, Vương Trọng đã có được những câu thơ chân thành, giàu sức khái quát và mang đậm tính nhân văn sâu sắc.

“Chị dâu” là thi phẩm viết về cuộc đời, số phận và phẩm hạnh của một người nhưng khả năng phóng chiếu của nó lại lớn lao và sâu sắc hơn nhiều. Có lẽ vậy chăng mà khi in vào tập thơ “Ngoảnh lại”, nhà thơ Vương Trong đã không quên đặt nó bên cạnh những bài thơ hay và nổi tiếng khác của mình. Nhờ đó, hình tượng người chị dâu hiện lên gần gũi, thiêng liêng và có sức lan tỏa mênh mông như một niềm tôn kính, đồng thời kết tinh vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam suốt bốn ngàn năm lịch sử.

 

 


Tin liên quan