A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài thơ "Tiếng gió Hàng Dương" - Lời bình của Trương Nhất Vương

TRƯƠNG NHẤT VƯƠNG

Tiếng gió Hàng Dương

 

NGUYỄN TIẾN SỸ

 

Những ngôi mộ không hàng không lối

Bao ngôi mộ không tên không tuổi

Nhang khói liêu xiêu

Lối cỏ ngoằn ngoèo

Trong khói nhang hư ảo giữa chiều

Giật mình như ai nói:

Chúng tôi nằm đây không cần hàng lối

Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình

Thẳng hàng được đâu

Trong tù ngục xà lim

Chân bị gông xiềng

Phải rướn mình lên chào cờ Tổ quốc

Thẳng hàng được đâu trong mấy mét vuông chuồng cọp

Úp mặt che cho nhau vôi độc dội lên đầu

Chúng hành hình xong vài nhát cuốc nông sâu

Chúng tôi đã hóa thân vào đất mẹ

Trên lối cỏ bạn đi bạn ơi có thể

Ai đó đang nằm không mộ chí không tên

Tôi nhẹ tay vuốt những lá cỏ mềm

Nghe tim mình nhức nhối

Hàng Dương ơi gió ngàn năm vẫn gọi

Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình.

 

Lời bình của Trương Nhất Vương

 

“Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình”

Bài thơ “Tiếng gió Hàng Dương” được tác giả Nguyễn Tiến Sỹ hoàn thành  sau chuyến du lịch Côn Đảo và ghé thăm nghĩa trang Hàng Dương cùng gia đình. Bài thơ ở thể thơ tự do, với bút pháp tả thực pha một chút hư cấu tâm linh, thần giao cách cảm giữa người sống và những người đã mất, cùng một tấm lòng thành kính biết ơn vô hạn trước anh linh những người đã xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Qua câu chuyện tác giả truyền tải được một thông điệp của những người đã khuất rằng: “Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình,” đây cũng là cái tứ xuyên suốt khiến bài thơ trở nên mới lạ, độc đáo và đi vào lòng người. Sự “ngã xuống” của các chiến sỹ cách mạng ở nhà tù Côn Đảo là quá nhiều, quá lớn. Ai đã từng đến hoặc tham khảo tài liệu sẽ biết số lượng những người Việt Nam yêu nước bị nhục hình, tra tấn, giết hại từ khi nhà tù Côn Đảo thành lập đến ngày giải phóng đất nước 30/4/1975 là hơn 20.000 người. Quá trình khai quật, quy tập về nghĩa trang Hàng Dương người ta phát hiện hơn 25 hố chôn tập thể, xác chồng xác, mộ chồng lên mộ nên đành giữ nguyên hiện trạng và nhà thơ Nguyễn Tiến Sỹ đã khái quát khá đầy đủ bằng khổ thơ ngắn gọn. “Những ngôi mộ không hàng không lối/ Bao ngôi mộ không tên không tuổi/ Nhang khói liêu xiêu/ Lối cỏ ngoằn ngoèo”. Cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân tộc, đất nước thanh bình hôm nay phải đánh đổi bằng bao tính mạng, bằng xương máu chất chồng của những con người yêu nước. Họ ngã xuống nào mong gì được xếp ngay hàng thẳng lối, hay được đặt nằm ở những chỗ mà mình mong muốn “Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình”.

Thẳng hàng được đâu/ Trong tù ngục xà lim/ Chân bị gông xiềng/ Phải rướn mình lên chào cờ Tổ quốc/ Thẳng hàng được đâu trong mấy mét vuông chuồng cọp/ Úp mặt che cho nhau vôi độc dội lên đầu/ Chúng hành hình xong vài nhát cuốc nông sâu/ Chúng tôi đã hóa thân vào đất mẹ”… Đó là những câu thơ có sức khái quát cao về cuộc chiến đấu của những chiến sỹ cộng sản trong nhà tù Côn Đảo. Sự đối lập được tác giả khai thác triệt để cho thấy sự chênh lệch lực lượng giữa những người tù khổ sai chỉ có trái tim, khối óc chống lại cả một bộ máy giết người hiện đại, dã man nhất thế giới mà như nhận xét của cựu tù Côn Đảo, Giáo sư Trần Văn Giàu viết riêng cho tập Lịch sử nhà tù Côn Đảo (1955 - 1975) trang 10 như sau: “Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã phải trải qua nhiều nhà tù… Tôi có nhiều tài liệu để so sánh các chế độ nhà tù tàn bạo, thì các nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu sâu bên trong là khác nhau... Nhà tù Hitler là tàn bạo nhất, với ý nghĩa chính là giết nhiều người nhất: Hàng triệu, hàng triệu dân Do Thái bị giết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, nói ra thì có lẽ không phải, nhưng cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật giết một lần hàng vạn sinh linh, cái chết đó người chiến sỹ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai sợ đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ - Ngụy, thì nhà tù Hitler giống ao cạn so với vực thẳm. Mỹ - Ngụy thâm hiểm hơn Hitler biết bao nhiêu!”.

Những người tù khổ sai với những tấm thân đã bị tra khảo đến tàn tạ với gông cùm, xiềng xích, vôi độc dội lên đầu… nhưng những con người ấy… tất cả ý chí, tâm hồn, hành động của họ là hai chữ Tổ quốc để họ chiến đấu và chấp nhận hy sinh. Tôi chợt nhớ đến câu thơ trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi như khẳng định cho ý chí Việt Nam “Xiềng xích chúng bay không khóa được/ Trời đầy chim và đất đầy hoa/ Súng đạn chúng bay không bắn được/ Lòng dân ta yêu nước thương nhà”. Hình ảnh những người tù “Phải rướn mình lên chào cờ Tổ quốc”… hay “Úp mặt che cho nhau vôi độc dội lên đầu” sẵn sàng nhận cái chết về mình là thực tế sống động là biểu tượng anh hùng, bất khuất chỉ có ở những người cộng sản Việt Nam. Những người tù cách mạng đã dùng chính thân xác của mình dựng nên một tượng đài bi hùng, một tượng đài bất tử giữa nhà tù đế quốc về tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” và tình đồng chí thiêng liêng thời đại Hồ Chí Minh, đỉnh cao chói lọi của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, khí tiết cộng sản, sáng ngời nhân cách Việt Nam.

Người viết bài cũng đã đến thăm Côn Đảo, thắp nhang tại nghĩa trang Hàng Dương, được cúi đầu trước mộ chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Cừ, Lê Hồng Phong… cùng bao tên tuổi đã đi vào sử sách thi ca và biết bao con người đã nằm xuống trong yên lặng không có được nấm mồ, không tên, không tuổi. Tôi thấm đến tận cùng giá trị của hòa bình trên khắp dải đất hình chữ S. Những người con trung nghĩa ấy không hẹn mà gặp nơi địa ngục trần gian bởi chung một ý chí đấu tranh cho độc lập tự do, cùng “ngã xuống”, cùng nằm lại Côn Đảo cái tên tự hào mà cũng gợi lên nhiều yêu thương và đau thương! Hàng ngàn người ngày đêm vẫn đến dâng hương tại nghĩa trang Hàng Dương, tất cả nhẹ bàn chân bởi “Trên lối cỏ bạn đi bạn ơi có thể/ Ai đó đang nằm không mộ chí không tên/ Tôi nhẹ tay vuốt những lá cỏ mềm/ Nghe tim mình nhức nhối/ Hàng dương ơi gió ngàn năm vẫn gọi/ Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình”.

Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình” được được tác giả nhắc lại lần 2 và là câu kết bài thơ Tiếng gió Hàng Dương vừa là hình ảnh bi hùng vừa là câu hỏi tu từ đã có sẵn câu trả lời của các anh hùng liệt sỹ đã mãi mãi nằm lại tại nghĩa trang Hàng Dương. Đó cũng là lời khẳng định chung của lớp lớp cha anh đại diện cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của tổ quốc và cũng là ý chí, hành động của lớp lớp con dân đất Việt yêu chuộng hòa bình sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng khi có kẻ thù đến xâm lược và nếu phải ngã xuống vì quê hương thì đó cũng lẽ thường tình mà mỗi người dân yêu nước đã và sẽ chọn.

Chiến tranh đã lùi xa, những vết thương trong cuộc chiến đã được sương khói thời gian che phủ. Bài thơ Tiếng gió Hàng Dương của tác giả Nguyễn Tiến Sỹ như bức tranh tả thực với câu chữ đơn giản, gần gũi, dễ thấy, dễ hiểu và đặc biệt là cái tứ “Ngã xuống vì quê hương ai chọn chỗ cho mình” vừa đanh thép quyết liệt vừa có tính hiệu triệu kêu gọi yêu nước vừa có chiều sâu gợi cảm mạnh mẽ đánh động đến lương tri mỗi con người. Bài thơ cũng có tác dụng nhắc nhở ôn lại truyền thống đấu tranh giữ nước của cha, anh nói chung và cuộc chiến của các anh hùng liệt sỹ đã từng chiến đấu, hy sinh tại nhà tù Côn Đảo nói riêng và là bài học lớn về lòng yêu nước, sẵn sàng hy sinh khi tổ quốc cần đã và sẽ được lưu giữ, chảy trong huyết quản của thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.


Tin liên quan