A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Miếng cơm quê

Bài thơ "Miếng cơm quê" - Lời bình của Võ Văn Hân

Thèm ăn một miếng cơm quê

Để nghe gan ruột tìm về nắng mưa

Tìm về bóng dáng mẹ xưa

Đồng sâu ruộng cạn sớm trưa cuốc cày

 

Ốm đau sưng mặt sưng mày

Còng lưng mẹ cõng tháng ngày bão giông

Chìm trong nắng hạ mưa đông

Gian truân trĩu nặng, gánh gồng sụn vai

 

Bát cơm độn tháng năm dài

Thơm ngon tình mẹ buổi mai no lòng

Quả cà bát nước vối trong

Kết nên đời mẹ một vòng nhân gian

 

Mẹ đi về chốn sương tan

Sắn khoai mãi gợi muôn vàn nhớ thương

Con đi xa mấy nẻo đường

Miếng cơm kiếm được mà thương sức mình

 

Thương từng hạt gạo trắng tinh

Mồ hôi nước mắt, mưu sinh với đời

Bát cơm thơm phức bốc hơi

Mà sao nuốt nghẹn, mặn nơi mắt gầy

 

Bát cơm xưa, buổi sum vầy

Sắn khoai chung thuỷ dâng đầy nghĩa nhân

Cho dòng sữa mẹ xoay vần

Trao bầy con biết lập thân với đời

 

Hôm nay buốt lạnh mưa rơi

Con thèm quá, bát cơm thời mẹ cho

Sắn khoai đủ để mà no

Mà nên nhân cách, biết lo chuyện đời

 

Bát cơm quê ấy mẹ ơi

Con thèm, con nhớ, như lời mẹ ru ...!

        NGUYỄN XUÂN DƯƠNG

Lời bình của Võ Văn Hân

Tôi bần thần,  khi đọc "Miếng cơm quê" của "Lão hưu sư" - thầy giáo, nhà thơ, hoạ sĩ Nguyễn Xuân Dương. Anh viết về mẹ anh hay mẹ tôi? Người  mẹ xứ Thanh, người mẹ miền Trung, người mẹ Việt "Gian  truân trĩu nặng, gánh gồng sụn vai", "Đòn gánh tre chín dạn vai" (Nguyễn Du). Mẹ chúng ta là vậy ...

"Miếng cơm quê" là tấc lòng hoài niệm của lão nghệ sĩ tuổi "cổ lai hi" về mẹ.  "Với mẹ già ta vẫn bé như xưa", một nhà thơ Xô Viết đã viết như thế.

Thèm cơm mẹ nấu, nhớ miếng cơm quê là nỗi niềm đau đáu của người xa xứ, đặc biệt người  cao tuổi,  thương nhớ đồng quê, nâng niu quá khứ, "ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa" (Nguyễn Duy) là cái nhẽ ở đời.

Mẹ là đề tài muôn thuở của thi gia, thể loại lục bát, muôn đời của thi Việt, đã tạo nên bản mệnh thi gia, bản mệnh thi ca dân tộc. Với 7 khổ thơ và hai câu kết, "Miếng cơm quê", bài lục bát hoàn chỉnh về cấu tứ, với nhiều sáng tạo về hình ảnh, đậm đặc tính quê mùa của xứ Thanh. Tư duy thơ truyền thống theo thể phú của ca dao, thân quen, không triết lí cao sang, giọng thơ thủ thỉ tâm tình, cảm xúc dạt dào sâu lắng ... tạo ấn tượng mạnh cho người đọc, dư âm về nỗi buồn cố xứ của kẻ tha hương.

Xuân Dương đã chọn đề tài, thể loại có từ ngàn năm trước để giãi bày, dẫn dắt cảm xúc trĩu nặng, day dứt về một thời gian khó cơ hàn nhưng hạnh phúc, "Bát cơm độn tháng năm dài/ Thơm ngon tình mẹ buổi mai no lòng". Trong ba động của "kiếp con người", (Trịnh Công Sơn), "Con đi xa mấy nẻo đường", nỗi sầu cố xứ của Xuân Dương xoay quanh hình tượng mẹ và hình ảnh sắn, khoai, cơm độn, quả cà, bát nước vối trong ... (thứ nước nấu lại không còn màu, hương lá vối). "Bát cơm xưa buổi sum vầy/ Sắn khoai chung thuỷ dâng đầy nghĩa nhân"... Cái hay của lão thi, viết lại cái xưa cũ nhưng không nhàm, sáo. Biến nỗi buồn thương thân phận (bi ai), "Con đi xa mấy dặm đường/ Bát cơm kiếm được mà thương sức mình", thành nỗi nhớ (hoài niệm) da diết, "Con thèm lắm bát cơm thời mẹ cho". Sự hoá giải tài tình của anh làm cho bài thơ bớt nét sầu bi. Cứ thế, Xuân Dương thủ thỉ tâm tình cùng điệu xưa nhịp cũ. Đề tài, thể loại của "Miếng cơm quê"  hợp cảnh hợp tình, như hình với bóng tạo nên sự đằm thắm dịu dàng du dương, lay động lòng người  của phút giây cô độc kiếp người, hoài niệm, tự sự về sự vĩ đại bao la tình mẹ. "Hôm nay buốt lạnh mưa rơi", Xuân Dương nghĩ về cuộc đời, nghĩ về mẹ. "Mẹ đi về chốn sương tan/ Sắn khoai mãi gợi muôn vàn nhớ thương". Xuân Dương cô đơn đến cô độc, lui cui, lọ mọ dưới gầm trời, chắt chiu lương mọn hưu trí, góp nhặt ..."Miếng cơm kiếm được mà thương sức mình" nuôi hai con ăn học. Trước anh không có tri âm, sau anh vắng người tri kỉ. Viết đến đây tôi nhớ đến Thánh thi Trần Tử Ngang, nổi tiếng đời Đường với bài Đăng U Châu đài ca (Bài ca lên lầu U Châu):

 

 

Tiền bất kiến cổ nhân

Hậu bất kiến lai dã

Niệm thiên địa chi du du

Độc sảng nhiên nhi thế hạ

 

Dịch                                    

 

Trước sau chẳng thấy  bóng người

Mình ta cô độc giữa trời  bao la

Trước sau chỉ một mình ta

Thương mình cô quạnh xót xa lệ trào.

(Võ Văn Hân dịch thơ)

Những lúc đó ta thường nghĩ về mẹ, về quê hương bản quán. "Mẹ là đất nước tháng ngày của con" (Trần Đăng Khoa).  Xuân Dương cũng không ngoại lệ, trong thơ anh mẹ là hình hài của anh, của anh chị em anh". “Từ dòng sữa mẹ xoay vần/Trao bầy con biết lập thân với đời".  Tôi lại nhớ đến cố cao tăng, đại lão hoà thượng thiền sư Nhất Hạnh dạy rằng, khi nhớ mẹ hãy ngửa hai bàn tay, nhìn vào đó thật kĩ ta sẽ thấy mẹ. Vì cốt nhục của mẹ đã truyền cho ta. "Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch" (Đến bữa ăn không quên ghi điều cần nhớ vào thẻ trúc, thơ Viên Mai - đời nhà Thanh - Trung Quốc) Xuân Dương cũng vậy, bưng bát cơm mỗi bữa anh lại nhớ miếng cơm quê, nhớ mẹ qua những hình ảnh sắn, khoai, quả cà, nước vối... đó cũng là ẩn ngữ "thi trung" của Xuân Dương. Phải chăng lão thi gia tạo thi tứ  "Miếng cơm quê" trong lúc vắng khách viết thư pháp buổi trưa nơi chợ hoa chang chang nắng vàng ngày giáp Tết,  mồ hôi nhoè tròng kính lão, dùng bữa bằng cơm hộp bình dân, hay  co ro tím tái trong đêm muộn giao thừa lạnh như dao cắt thịt da trước tam quan, chờ khách  lễ chùa xin chữ, công cán "tuỳ hỉ bút mặc"  khách cho. Cảm về thân phận, thương mẹ, nhớ những ngày thơ ấu để có tứ thơ hay... Tôi đã thấy Xuân Dương như thế và từng xin chữ động viên anh... Để rồi chợ tan, xuân mãn, kiểm đếm  công việc "bán văn buôn chữ " (Tản Đà) mà nghĩ về "miếng cơm kiếm được mà thương sức mình”, để có thi phẩm hay "Miếng cơm quê",  trong cảnh gà trống già nuôi con nhỏ.  Lục bát của Xuân Dương là lục bát tình.  Trở lại với bài thơ, khổ thơ đầu, để  thấy Xuân Dương quay quắt, "Thèm ăn một miếng cơm quê/ Để nghe gan ruột tìm về nắng mưa/ Tìm về bóng dáng mẹ xưa/ Đồng sâu ruộng cạn sớm trưa cuốc cày", đôi cặp lục bát mở như một khúc nhạc dạo  đầu -  của liên khúc ca dao theo thể phú  - giải bày tâm sự, chỉn chu khuôn thước về nội dung  cũng như hình thức, giọng tự sự trữ tình sát về vần, thanh thoát về nhạc điệu.  Như một sự định hình cho âm điệu (cao độ), nhịp điệu (tiết tấu), định lượng cho sự giãi bày,  định tính cho cảm xúc trữ tình của nhà thơ. Bảy khổ thơ và hai câu kết như những  đoản khúc ca dao liền lạc không đứt gãy, cảm xúc tuôn trào về mẹ, về kỉ niệm ấu thơ thiếu thốn cơ hàn, nhưng ấm áp xúm xít sum vầy không khí gia đình. Tiếp cận bài lục bát "Miếng cơm quê", ca  nương ca trù, thanh đồng nam nữ hát văn có  thể tom chát trống chầu, gõ nhịp song loan, nhấn nhá, vê vẫy cung đàn, xàng xê nhịp phách trên cây đàn đáy, đàn nguyệt, cho khúc hát "Miếng cơm quê" của Xuân Dương. Nói như vậy để khẳng định rằng phong cách dân gian của ca dao thấm đẫm trong thi phẩm  của Xuân Dương. Đọc lên cứ du dương ngân nga nhấn nhá như nghe hát văn trong  phủ  thờ Mẫu. Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh quá đỗi yêu thương, bầm dập đời  của mẹ, "Biết hi sinh nên chẳng nhiều lời"(Tố Hữu), "Ốm đau sưng mặt  tím mày/ Còng lưng mẹ cõng tháng ngày bão dông/ Chìm trong nắng hạ mưa đông/ Gian truân trĩu  nặng gánh gồng sụn vai".  Những hình ảnh quê kiểng thân thương của Nông Cống: Quả cà, củ sắn, củ khoai, hạt gạo, bát cơm độn, bát nước vối trong vào thơ Xuân Dương chí nghĩa chí tình. “Được mùa Nông Cống  sống mọi nơi”, câu ca dao như một nỗi đau của sự đói nghèo quê hương, để rồi bưng bát cơm thơm của mẹ, "Mà sao nuốt nghẹn, mặn nơi mắt gầy", câu thơ thọ ân bão giông đời mẹ của Xuân Dương tình cảm sâu lắng tha thiết biết bao .

Cảm hứng trữ tình trong "Miếng cơm quê" đằm thắm quê mùa, bao đỗi thiết tha. Hoài niệm về "Bát cơm xưa, buổi sum vầy/ Sắn khoai chung thuỷ dâng đầy nghĩa nhân/ Cho dòng sữa mẹ xoay vần/ Trao bầy con biết lập thân với đời"  kể lể nỉ non, nao lòng đến thế là cùng. "Bát cơm quê ấy mẹ ơi/ Con thèm, con nhớ, như lời mẹ ru". Đôi câu kết được Xuân Dương sử dụng như một kĩ thuật Outro trong  âm nhạc, đây là khúc dâng tấu, tạo nên dư ba lòng người với bài lục bát "Miếng cơm quê". 

Bài thơ hay viết về mẹ  của thơ Việt Nam  trong những năm gần đây, "Miếng cơm quê" có  khả năng  cảm hoá  người đọc với  chất  tình,  chất đời trong phong cách thơ Xuân Dương.

 


Tin liên quan

Sáng 30/11, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh diễn ra Lễ tổng kết và trao giải Cuộc thi sáng tác ca khúc về Đắk Nông lần thứ I năm 2021-2022 do Hội Văn học nghệ thuật tỉnh tổ chức. Sau 1 năm phát động (tháng 9/2021 đến hết ngày 31/8/2022), Ban Tổ chức đã nhận được 70 tác phẩm, của 52 tác giả/nhóm tác ...