A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thầy giáo Nguyễn Tất Thành trước ngày đi tìm đường cứu nước cho dân tộc

HỒ NGỌC DIỆP

Trường Quốc học Huế là một ngôi trường xưa có nhiều thành tích trong rèn dạy các học sinh, nhất là những người tài năng. Đây là trường trung học dạy Pháp văn đầu tiên do vua Thành Thái mở năm 1896.

Tháng 7 năm 1907, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã vào học ở đây, anh học rất giỏi, đặc biệt là môn Pháp văn nên được các thầy giáo yêu quí. Mỗi khi có giờ Pháp văn, anh thường được cac thầy giao lên viết bài trên bảng và đọc cho các học sinh đọc theo.

Hơn hai năm liền ở trường Quốc học Huế, những người thầy giáo kính yêu đã dạy anh Thành nhiều vấn đề mới của văn hóa Pháp. Và từ đó, giúp anh nảy sinh những tư tưởng sang Pháp tìm hiểu về nền văn hóa đó. Rồi một ngày vào cuối mùa thu 1909, Nguyễn Tất Thành từ giã trường Quốc học Huế bước lên tàu biển vào Phan Thiết. Tại đây, Nguyễn Tất Thành sống và làm việc tại trường Dục Thanh. Ngôi trường được thành lập năm Bính Ngọ - tức năm 1906 - do tổ chức Liên Thành Thương quán thành lập. Trường đứng ngay bên cửa biển và dòng sông lớn trung tâm của thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Các tư liệu sử học cho biết, vào những năm đầu thế kỷ XX, khi công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp bước vào lần thứ 3, hưởng ứng phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở Hà Nội, cụ Trần Lệ Chất, một nhà nho yêu nước ở Nam Trung bộ đã đứng ra chiêu hiền, lập ra Hội Liên Thành Thương quán, tại nhà võ ca làng Phú Tài, tỉnh lỵ Phan Thiết lúc đó. Khi thành lập xong, các ông cho mở các lớp dạy chữ Hán và Pháp văn các chương trình do những nhà nho yêu nước đảm trách. Các lớp học này được nhiều trí thức trợ giúp, trong đó có ông Nguyễn Hiệt Chi, quê từ Hà Tĩnh dạy Hán văn; ông Trần Lệ Chất, phụ trách dạy môn Pháp văn. Tất cả sách học đều do tổ chức của Đông Kinh Nghĩa Thục biên khảo, chú giải.

Học sinh những năm đầu mới thành lập, từ nhiều tỉnh Nam Trung bộ, Nam bộ ra học khá đông, được chia làm 4 lớp. Năm sĩ số cao nhất, trường có từ 80 - 100 học sinh, học từ lớp 4 đệ nhất, đến đệ tứ, với các chương trình độc lập do trường mở.

Tại trường Dục Thanh thầy giáo Nguyễn Tất Thành dạy chữ Quốc ngữ và Hán văn, nhiều lúc còn dạy thêm tiếng Pháp. Khi về đây, Người đã đề nghị các vị quản lý trường, mở ra môn thể dục - thể thao và chính Người đã trực tiếp dạy học sinh môn học mới mẻ và hứng thú này cho học sinh.

Học trò vào học tại đây phải chấp hành nội quy học tập rất nghiêm, cho tất cả 4 lớp từ lớp nhất, nhì đến lớp đệ tam, đệ tứ. Mỗi sáng, từ 6 giờ sáng, học trò dậy tập bài tập thể dục, sau bài tập thể dục, học sinh xếp hàng đi vào lớp ngay ngắn từng người. Vào lớp rồi, tất cả học sinh phải xếp tay vòng trước ngực hát cao giọng “Bài ca ái quốc” do nhà chí sỹ Phan Chu Trinh viết năm 1907. Đây là bài hát thuộc lòng cho mỗi môn sinh. Bài ca hào hùng, đầy chí khí cho những tuổi trẻ môn sinh: “Nước Nam ta từ thời Hồng Lạc/ Mấy ngàn năm khai phá đến nay/ Á Âu riêng một cõi này/ Giống vàng ta cũng xưa nay một loài/ Vuông mấy dặm, ba mươi mấy vạn/ Nào bạc vàng nhan nhản thiếu chi/ Đồng tươi, ruộng tốt tư bề/ Có điều lợi đất, ai bì được đâu”.

Khi lên lớp, thầy Thành thường lưu ý liên hệ kiến thức về lịch sử nhằm truyền bá thêm cho học sinh về ý chí yêu nước, truyền thống của con người Việt Nam từ xưa đến nay.

Tháng 2/1911, thầy giáo Thành đã được cụ Trương Gia Mô (ông nội nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng) giúp đỡ trên đường vào Sài Gòn. Đầu tiên, Người vào ở tại căn nhà anh Lê Văn Đạt, ở xóm Rạch Bần, là số nhà 185/1 đường Cô Bắc - quận I ngày nay. Sau đó, Người được sang ở nhà của trụ sở Liên Thành Thương quán tại Chợ Lớn lúc đó, nhà số 3-5 - Châu Văn Liêm, quận 5 (hiện nay). Rồi cũng tại Sài Gòn, các chí sỹ Trần Lệ Chất, Hồ Tá Bang lại đứng ra bảo lãnh vận động Công sứ Pháp cấp cho thầy giáo Nguyễn Tất Thành một giấy thông hành, với tên mới là Văn Ba và anh Ba đã xuống làm phụ bếp trên con tàu Amiral Latouche Tréville để bắt đầu hành trình tìm đường cứu nước.

Trường Quốc học Huế và Dục Thanh - Phan Thiết là nơi để Người trở thành người thầy giáo và thầy giáo Nguyễn Tất Thành đã đi tìm được chủ nghĩa yêu nước chân chính cho dân tộc Việt Nam, sau này trở thành lãnh tụ Hồ Chí Minh kính yêu của dân tộc Việt Nam.

 


Tin liên quan