A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hồn ốc

Truyện ngắn của ĐÀO THU HÀ

Đêm trên đảo se se lạnh. Chị cố dõi mắt theo những con sóng ra tít ngoài khơi xa. Chỉ thấy một vùng mênh mông đen thẫm vọng lại những tiếng ầm ì thả vào lòng đêm những bí ẩn tha thiết mong được tìm hiểu, giải đáp. Trời đêm vô vàn những vì sao li ti cố tỏa sáng niềm hi vọng kéo con người ngước lên nhìn ngắm thay vì đắm chìm trong sự sâu thẳm quyến rũ của biển. Những cơn gió vọng về từ phía biển khiến chị khẽ co vai vì lạnh. Chị ngồi xuống, cằm chạm vào hai đầu gối, lắng nghe tiếng gió. Gió từ khơi xa thổi về. Gió có ngang qua nơi chồng chị neo mình, mang theo lời nhắn nhủ từ xa xôi anh gửi gắm. Gió có dừng lại chốc lát chỗ con trai chị, giúp thằng bé gửi lời thương, lời nhớ về đất liền. Tự nhiên, chị thấy mắt mình ươn ướt. Gió như hiểu, bỗng dịu lại và đậu lên vai chị hiền lành như một lời an ủi. Lẫn trong tiếng gió, chị như nghe thấy những lời ru lúc thầm thì, lúc nghẹn ngào. Chị dõi mắt nhìn theo gió. Gió chạy về phía những ngôi mộ nằm xen lẫn trong những ruộng tỏi đang lên xanh. Hình như gió nức nở tiếng lòng thương nhớ của những người vợ, người mẹ ngóng bóng chồng, bóng con mịt mờ giữa trùng khơi sóng vỗ. Chị nhớ lời ru cháu của bà cụ chủ nhà lúc chập tối. Bà cụ đã già lắm, những nếp nhăn xếp thành chồng lớp trên khuôn mặt như trầm tích của tháng năm, của sóng biển, gió biển, của vị muối mặn và những lớp cát phơi mình dưới nắng. Tiếng ru của bà cụ như cũng được thời gian, sóng gió chất chồng lên mà nghẹn ngào, day dứt: “À…ơi… Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn, chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây. Hoàng Sa trời nước mênh mông, người đi thì có mà không thấy về. Hoàng Sa mây nước bốn bề… À ơi…”*

Chị quay trở về căn nhà của bà cụ đã đồng ý cho chị ở cùng thay vì thuê một phòng ở nhà nghỉ. Bà cụ chưa ngủ. Bà cụ ngồi tựa lưng vào cửa, im lặng như một pho tượng. Trên tay bà cụ cầm một chiếc vỏ ốc đã lên nước bóng loáng. Hình như bà cụ đang thả tâm trí mình trôi về một nơi nào đấy vô cùng xa xôi. Chỉ khi nghe thấy thứ âm thanh bỗng nhiên vang lên đầy trầm hùng trong đêm vắng, bà cụ như mới choàng tỉnh. Đó là thứ âm thanh như trườn qua từng lớp sóng phía trên, xuyên qua những lớp sóng cuồn cuộn dưới lòng biển sâu để báo hiệu, để gọi nhau, để gợi nhắc những ký ức đã rất xưa. Bà cụ khẽ nói, chẳng biết là nói cho chị nghe hay để tự nói với chính mình:

- Đấy là tiếng ốc u của tổ dân quân đi tuần sương. Đêm nay bình yên, mọi người cứ yên tâm mà ngủ, không cần lo lắng gì cả.

Chị ngồi xuống cạnh bà cụ. Đêm nay, chị biết mình chẳng thể nào ngủ được. Làm sao có thể ngủ khi chị đang ở gần anh hơn, ở gần con hơn. Bà cụ chẳng nói lời nào với chị, chẳng giục chị đi ngủ. Bà cụ đang kể chuyện với đêm. Câu chuyện bà cụ được nghe mẹ mình kể lại. Mẹ bà cụ lại nghe bà ngoại bà cụ kể lại, cứ thế tiếp từ đời này qua đời khác mà truyền lại. Mỗi người đàn bà lại thêm một phần cuộc đời mình vào những câu chuyện kể, khiến câu chuyện cứ dày lên mãi. Chẳng biết là giọng bà cụ hay là lời từ chiếc vỏ ốc truyền âm xuyên qua không gian và thời gian, vọng lên từ lớp lớp những con sóng giữa muôn trùng khơi…

“… Năm chiếc ghe câu chở các dân binh đã đi xa bờ, xa đến mức Phú đứng ở cuối ghe nhìn lại thấy đám đông đi tiễn trên bến chỉ như một chấm nhỏ mờ nhạt. Dẫu vậy, tiếng ốc u trầm hùng từ trên bến vẫn át cả tiếng gió, tiếng sóng, trườn lên trên từng ngọn sóng bạc đầu mà tiếp thêm sức mạnh cho các hùng binh. Ông Thuận - cha anh, cũng cầm chiếc vỏ ốc u đưa lên miệng, thổi đáp lại thay cho lời từ biệt. Nắng đã lên cao. Buồm căng gió rẽ sóng mà đi. Phú đưa tay lên che mắt cho bớt chói, cố nhìn về phía bờ nhưng chẳng còn nhìn thấy gì ngoài mênh mông sóng nước. Chẳng biết lúc này, khi những chiếc ghe câu đã khuất tầm nhìn, Thu đã dìu mẹ về nhà chưa. Hay hai mẹ con vẫn cứ tựa vào nhau nhìn theo đoàn ghe đưa cha và Phú đi về phía những bãi cát, những hòn đảo vắng vẻ, nằm tuốt ngoài khơi xa cho đến khi nắng lên tới đỉnh đầu mới chịu quay về. Và sau đó là những tháng ngày ngóng chờ. Vợ anh, có lẽ sẽ chờ anh như mẹ anh chờ cha suốt bao nhiêu năm qua. Còn mẹ anh lần này, trong nỗi ngóng trông chồng còn hằn thêm nỗi mong con. Nốt lần này thôi, cha sẽ ở nhà với mẹ. Thường đội dân binh chỉ tuyển chọn các trai tráng, cha anh đã đến tuổi được nghỉ ngơi. Nhưng cha thông thuộc hải trình và biết rõ vị trí của các cọc mốc trên các đảo do nhiều lần dẫn các đội hùng binh ra Hoàng Sa. Còn anh, bắt đầu từ buổi hôm nay sẽ tiếp nối cha trên hành trình vượt trùng khơi đi cắm và sửa cọc mốc trên các đảo.

Từ thời vua Thái Đức Nguyễn Nhạc nhà Tây Sơn, dòng họ Võ Văn của cha con Phú ở làng An Vĩnh đã được giao cho trọng trách đi tuyển chọn binh phu cho đội hùng binh Hoàng Sa. Kể từ đó, việc sung binh hàng năm cho đội quân Hoàng Sa do nhà họ Võ Văn chịu trách nhiệm. Ông cố của Phú, ông nội Phú, cha Phú, Phú và đến đời con của Phú, cháu của Phú sẽ cứ thế mà tiếp nối đời đời. Nghĩ đến con, Phú bất giác khẽ cười. Thu mới có bầu được hơn hai tháng, bụng còn chưa rõ. Từ lúc biết Thu có bầu, tối nào Phú cũng sờ vào bụng vợ, tự hỏi chẳng biết là con trai hay con gái. Phú mong đứa bé sẽ là con trai để anh dạy nó cách thổi ốc u như cha anh mới dạy anh trước lúc lên đường. Cha bảo, chỉ có người chỉ huy trên ghe mới được thổi ốc u nhưng tất cả các dân binh đều phải biết thổi để đề phòng các trường hợp bất ngờ xảy ra. Sáu hồi ba tiếng là lệnh xuất quân. Sáu hồi sáu tiếng là lệnh thu quân. Chín tiếng là có giặc, chuẩn bị nghênh chiến. Còn tiếng ốc u ba hồi thê lương là tiếng tiễn đưa dân binh xấu số về với biển. Lúc ra đi tiếng ốc u đưa chân. Khi tiếng ốc u vang lên là lúc đoàn binh phu chia tay gia đình, người thân, từ giã xóm làng quê hương để dấn thân về phía biển, đạp sóng mà ra khơi. Chết rồi cũng chính tiếng ốc u tiễn nốt một đoạn đường cuối cùng trên dương thế. Phú nhìn mặt biển. Giữa mênh mông trời nước, chiếc ghe câu sao mà nhỏ bé, mỏng manh. Những dân binh như Phú cũng mong manh nhỏ bé. Nghĩ đến nguy hiểm, sợ bất trắc, chẳng ai là không sợ. Nhưng lấy lý do vì sợ hãi mà chùn bước thì lấy ai lên đường, lấy ai đối diện với gió to sóng dữ. Lúc thấy Thu lén lau nước mắt chuẩn bị hành trang cho chồng, Phú thấy lòng mình thắt lại. Nhưng Phú bình thản chấp nhận như ông cố anh, ông nội anh, cha anh và bao lớp trai tráng ở cái làng An Vĩnh này từng bình thản chấp nhận, có lẽ là ngay từ lúc chào đời trong hình hài của một đứa con trai. Bình thản như từ thủa còn nằm trong nôi ngày ngày nghe lời ru: “Ốc u đã nổi lên rồi. Để cha đi giữ biển trời Hoàng Sa” mà khôn lớn. Như khi nhận lệnh triều đình, mỗi dân binh phải chuẩn bị cho mình một đôi chiếu, bảy nẹp tre và bảy sợi dây mây cùng một thẻ bài ghi tên tuổi, quê quán. Đôi chiếu bình thường để trải nằm, khi gặp chuyện chẳng lành trước biển khơi thì dùng để bó xác. Trước lúc lên đường, cha dạy Phú và các dân binh mới đi chuyến đầu tiên cách bó chiếu sao cho xác người không bị rớt ra ngoài dù phải lênh đênh trên biển. Những chiếc kẹp tre kẹp chặt nỗi hy vọng sóng gió sẽ đưa thi thể người đã khuất vào một bờ biển nào đấy rồi thân nhân nhận được tin mà đón về. Hi vọng là vậy, nhưng biết bao đời nay, kể từ khi nhận lệnh vua ra đảo, chưa có xác của dân binh xấu số nào được sóng biển đưa vào bờ mà trở về làng An Vĩnh. Chỉ có những ngôi mộ gió là ngày càng nhiều. Chỉ có những tiếng hờ chồng, hờ con mỗi năm lại thêm buồn hiu hắt. Ông nội của Phú trong một chuyến đi biển cũng đã không trở về. Bà nội bảo, năm ấy cha Phú mới lên ba. Ngôi mộ gió của ông nằm chung với gần năm chục ngôi mộ gió khác của dòng họ Võ Văn. Mẹ kể, người làng An Vĩnh từ bao đời nay vẫn tin rằng dù chết ở Hoàng Sa, dù xác bó chiếu chôn vùi dưới lòng biển thì chỉ cần có hình nhân thay thế đặt trong mộ gió, linh hồn vẫn tìm về được với tổ tiên, dòng tộc, làng mạc, người thân. Vậy nên, người làng lấy đất ở núi Giếng Tiền về trộn, nhào với cây bông gòn và thầu đâu để nặn, lấy thân cây dâu làm xương, trứng gà sống thay tim, chỉ để thay ruột. Lấy đất ở nơi con gà trống bịt mắt mổ vào hòa với nước để quét thay da. Bình thản vì biết dẫu có thế nào vẫn sẽ có một chỗ để linh hồn nương trú mà tìm về. Sớm nay, trước khi đoàn ghe xuất phát, dân làng đã làm lễ Khao lề thế lính, tế sống những người dân binh. Những hình nhân bằng giấy được đặt trên những chiếc ghe làm bằng thân cây chuối, tế xong đem thả ra ngoài biển với mong muốn thế mạng cho những người đi chuyến này, chịu mọi rủi ro thay cho họ. Chẳng biết có đúng không nhưng ít nhất những người ở nhà có niềm tin mà bấu víu vào. Vậy nên, Phú đón nhận chuyến đi này như lẽ đương nhiên phải đến. Thậm chí, Phú còn có chút mong chờ. Những đứa con trai sinh ra ở làng An Vĩnh ngay từ khi chào đời đã gánh trên vai mình trọng trách giữ đảo. Điều áy náy duy nhất có lẽ là dáng hình những người mẹ, người vợ và những đứa con vừa kịp lớn chiều nào cũng ngóng trước biển. Phú chỉ mong sao trời yên biển lặng, anh kịp trở về nhà lúc vợ sinh đứa con đầu lòng”.

Chị biết mình có bầu vào ngày cuối trong kỳ nghỉ phép của anh. Bảy năm kết hôn, hai lần anh về phép, lần thứ hai, hai vợ chồng mới có trái ngọt. Anh chỉ kịp dặn chị đặt tên con là Hải rồi vội vã về đơn vị. Chị đã tính quay ngược kim đồng hồ lùi lại để có thể bên anh thêm mười mấy phút rồi lại không dám. Nhiệm vụ, trễ một phút thôi cũng có thể kéo theo bao hệ lụy. Chẳng ngờ, đấy là lần cuối cùng chị được ở bên anh. Ngày cu Hải mới được mấy tháng cũng là ngày anh hi sinh. Anh hi sinh khi mới nhận được thư người nhà gửi báo chị đã sinh con trai. Lá thư anh viết gửi cho vợ mới được một nửa còn kẹp trong cuốn sổ tay đơn vị gửi về cho chị. Những lời yêu thương cũng chưa kịp ghi trọn vẹn. Anh hi sinh khi đang làm nhiệm vụ trên đảo. Mùa biển động, thân xác anh nằm lại vĩnh viễn với biển khơi. Chị một mình nuôi con khôn lớn, những lúc yếu mềm lại tự nhủ lòng mình anh công tác xa ngoài đảo, bận nhiệm vụ chẳng thể về. Đêm dỗ con ngủ xong, nhớ chồng, chị đem chiếc vỏ ốc là di vật anh để lại áp vào tai. Tiếng sóng vọng về từ vỏ ốc như tiếng anh ấm áp. Cu Hải sau này cũng thích áp chiếc vỏ ốc vào tai để lắng nghe tiếng sóng như chị. Con bảo, nghe tiếng ốc con tưởng tượng thấy bước chân những người lính hướng ra biển lớn, dù sóng to gió dữ cũng chẳng chịu lùi, hứng biết bao bão giông mà vẫn kiên cường. Trong đoàn quân ấy, con thấy bố.

“Gió thuận nên những cánh buồm căng lên kéo những chiếc ghe câu lướt băng băng trên sóng. Ghe cứ nhắm hướng mặt trời mọc mà tới. Sau ba ngày ba đêm, Hoàng Sa đã hiện ra. Đứng trên ghe nhìn về phía mặt trời mọc, thấy một mảng xanh thẫm mờ mờ, Phú khẽ reo lên: “Tới rồi, Hoàng Sa kìa…”. Mọi người trên ghe nghe tiếng Phú reo choàng tỉnh, nhao hết ra phía Phú đứng. Phú cứ ngỡ mọi người sẽ reo ầm lên, nhưng dường như ai cũng nghẹn ngào trong một nỗi xúc động khó có thể cất lên thành lời. Hoàng Sa đây rồi. Trong những dân binh trong chuyến vượt biển lần này, ai mà không có người nhà, người thân, họ hàng nằm với Hoàng Sa. Có ai đó chắp tay cúi đầu. Mặt trời đội biển nhô lên, đỏ như một quầng lửa. Quầng lửa linh thiêng tập hợp các linh hồn từ bao đời nằm lại với sóng nước trên hành trình vươn biển, giữ đảo của ông cha đang hiện lên, chứng kiến lớp trai tráng mười tám, đôi mươi tiếp tục cuộc hành trình, phù hộ cho đoàn ghe được thuận lợi, bình an.

Đến chiều thì đội ghe lên tới đảo. Đặt chân lên đảo, ông Thuận dẫn Phú đến chỗ cột cờ. Ngước mắt nhìn lên cột cờ cao vài trượng, thấy lá cờ cũ đã rách nát bạc màu vì mưa nắng nhưng giữa biển cả mênh mông, nhìn thấy lá cờ của quê hương, xứ sở, ai cũng thấy các mạch máu trong cơ thể mình như đang sôi lên. Cha bảo, cột cờ này được dựng từ thời vua Gia Long. Mọi người hạ lá cờ cũ xuống, thay lá cờ mới lên. Trong chiều lộng gió, lá cờ bay phần phật kiêu hãnh như khẳng định dấu chân của những chàng trai Đại Nam đã lưu dấu trên quần đảo này. Phú thấy cha đứng lại rất lâu bên một cột gỗ lim. Cột gỗ đen nhánh chôn sâu, cao chừng năm thước, rộng năm tấc có khắc chữ. Cha chạm tay vào cọc mốc, trầm ngâm:

- Cọc mốc này cắm từ cái năm ông Phạm Quang Ảnh phụng mệnh vua Gia Long ra đảo. Năm đấy ông nội của tụi bay cũng theo ông Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa để cắm mốc, trồng những cây xanh để đời sau con cháu ra đảo có bóng cây râm mát che chở.

Phú biết lòng cha đang nặng trĩu tâm sự. Sau chuyến này, cha sẽ được nghỉ ngơi bên mẹ. Ông sẽ không còn rong ruổi trên những hành trình dài dặc và đầy hiểm nguy, bất trắc nữa. Nhưng ông cũng sẽ không còn được đặt chân lên các hòn đảo lớn nhỏ, chạm tay vào các cọc mốc, ngồi trên đảo mà nhắm mắt tưởng tượng đến người cha ông chưa từng biết mặt, tưởng tượng dấu chân người từng in dấu tại đây, bàn tay người từng ấp iu một hạt mầm trồng xuống đảo. Phú sờ nắn chiếc cọc mốc, tưởng như hồn ông cha truyền qua tay cha rồi truyền sang Phú, đời tiếp đời.

Những ngày sau đó, đội dân binh Hoàng Sa đi tuần tra, xem xét các đảo. Có ghe được phân công kiểm tra, sơn lại các cột mốc chủ quyền, có ghe đo đạc hải trình, có ghe tìm kiếm sản vật, hết ngày, hết thời gian quy định lại quy tụ bên nhau để đề phòng cướp biển, đề phòng giông gió, bất trắc. Thi thoảng, trên một vài hòn đảo nhỏ, Phú nhìn thấy các nấm mồ nhỏ bé nằm cạnh nhau, khuất trong các bụi cây thưa thớt. Cha bảo đấy là mộ của những dân binh làng An Vĩnh chẳng may có ngày đi mà chẳng có ngày về. Cha kêu Phú lấy cuốc sửa sang lại cho mấy ngôi mộ rồi thắp nhang. Gió tạt mùi nhang trầm bay quanh đảo. Khói nhang vướng vào mắt cha ươn ướt. Cha khấn những người xấu số đã nằm lại đây phù hộ cho những dân binh được thuận buồm xuôi gió. Cha xin những linh hồn cho phép các dân binh trẻ của làng An Vĩnh sau này sẽ thay cha ghé đảo thắp nhang, sửa lại mộ phần trong những chuyến trực chỉ Hoàng Sa làm nhiệm vụ. Ghe rời đảo, Phú còn ngoái lại trông mãi. Những nén nhang cháy lập lòe ánh lên những đốm đỏ trên các ngôi mộ nhỏ bé. Phú thấy mỗi nấm mộ ấy chẳng khác gì một cọc mốc trên đảo, trơ gan cũng nắng mưa năm tháng, sóng gió chẳng thể nào bào mòn hay quật đổ được”.

Có tiếng bước chân từ phía cổng. Cháu trai bà cụ theo đội dân quân tuần đêm về, mở cổng. Cậu trạc tuổi Hải con trai chị, đã lấy vợ và có đứa con hơn một tuổi. Thấy chị ngồi bên bà cụ, cậu khẽ gật đầu chào rồi nhẹ nhàng bước vào nhà để không làm vợ con tỉnh giấc. Vậy mà tiếng bước chân vẫn làm đứa bé giật mình, òa khóc. Cô vợ trẻ khe khẽ dỗ con. Tiếng ru rì rầm trong đêm gió.

“À ơi…

Hoàng Sa đi có về không

Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi”*…

Đứa bé đã nín khóc, chỉ còn những tiếng nấc nhẹ. Đêm lại chìm vào yên tĩnh. Bà cụ tiếp tục câu chuyện của mình, chẳng cần biết có ai nghe không. Cũng chẳng biết là giọng bà cụ hay tiếng sóng từ Hoàng Sa vọng về da diết.

“Phú cùng cha và những dân binh đã ở trên quần đảo gần sáu tháng trời. Trời Phật, ông bà phù hộ, chuyến đi đến nay chưa gặp phải bất trắc gì. Cha bàn bạc với cả đội để thống nhất ngày về. Từ nửa tháng trước, các ghe đã đi lấy lại số lương thực được cất giấu trước đó để dành cho chuyến quay về. Mấy ngày nay, ngày nào cha cũng để ý thời tiết, nhìn trời, nhìn mây, nhìn sóng để dự đoán thời tiết trong các ngày sắp tới. Phú đưa ngón tay ra nhẩm tính. Chắc anh kịp về lúc vợ sinh. Anh đã xin cha, nếu vợ sinh con trai sẽ đặt tên là Hoàng, sinh con gái đặt tên là Cát. Phú sẽ kể cho vợ, cho con nghe về chuyến đi lần này. Phú sẽ kể những chuyện vui, còn sự thiếu thốn, vất vả, Phú sẽ giấu kín. Đàn ông ở làng An Vĩnh từ xưa vẫn vậy. Cha Phú cũng vậy. Sau sáu tháng trời lênh đênh, trở về nhà, họ chỉ kể về những điều kỳ thú, kể về sự giàu có, hiền lành của biển. Cũng như đàn bà ở làng An Vĩnh, như mẹ, như vợ Phú. Dù lo đến cháy ruột cháy gan họ cũng không bao giờ khóc trước mặt chồng. Họ chỉ khóc khi đứng trước biển để lỡ có ai hỏi tới, họ bảo tại cát, tại gió thổi vào mắt. Phú đã nhặt được ít vỏ ốc, vỏ sò đầy màu sắc rực rỡ. Anh sẽ dùng để làm cho vợ chiếc vòng xinh xắn, làm đồ chơi cho con.

Ngày trở về, đoàn ghe được lệnh nhổ neo căng buồm từ lúc trời còn mờ sáng. Trời trong, gió nhẹ. Đêm qua bầu trời chi chít những vì sao lấp lánh nên cha Phú khẳng định hôm nay sẽ nắng to. Có ai đó ca lên khe khẽ. Sáu tháng phơi cùng nắng, cùng gió, những khuôn mặt đã sạm đen, má tóp lại, mắt trũng sâu. Nhưng trong những ánh mắt ấy đang lấp lánh niềm hạnh phúc, háo hức nỗi chờ mong chuẩn bị được trở về đoàn tụ với gia đình.

Đến đêm thứ hai thì trời bắt đầu nổi gió lớn. Mây đen ở đâu ùn ùn kéo về. Đêm đen như mực. Lòng biển tối và sâu hun hút. Mọi người vứt hết đồ trên ghe xuống và tát nước để ghe khỏi bị đắm. Gió càng lúc càng mạnh. Lốc cuốn ào ào như muốn quẹt sạch mọi thứ trên mặt biển. Đêm đen đặc, chẳng thể nhìn khuôn mặt của người bên cạnh mình. Lòng Phú cuộn thắt. Anh và cha không cùng chung một chiếc ghe để đề phòng bất trắc. Lỡ có gì thì còn có một người hi vọng trở về. Gió thét ầm ào. Sóng gầm ầm ào. Có tiếng cột buồm gãy gục. Chiếc ghe của Phú xoay tròn trên biển như một chiếc lá. Phú ngồi bẹp xuống sàn ghe, thầm khấn cầu cho sóng yên biển lặng, thầm mong cha đủ sức bấu víu vào đâu đó trên ghe để khỏi bị quăng xuống biển. Phú nhớ mẹ, nhớ Thu. Chẳng biết Thu sinh con trai hay con gái. Không có Phú, Thu sẽ vất vả nhiều. Vừa phải nuôi con, chăm sóc cha mẹ chồng lại dạy dỗ mấy đứa em chồng mới lớn. Thằng Khánh, thằng Sâm, mấy năm nữa đủ tuổi chắc cũng sẽ theo đội dân binh đi biển mà chẳng ngại ngần gì, dù ông nội chúng, anh chúng và có thể cả cha nữa đã nằm lại với biển mãi mãi. Một đợt sóng đưa chiếc ghe lên cao rồi nhồi xuống khiến Phú sây sẩm mặt mày. Trước mắt anh như hiện lên dáng Thu trong chiều tà đứng trước biển, nước mắt đầy mặt. Nước mắt rơi xuống cát rồi bị sóng cuốn đi. Nước biển vì thế mà sẽ lại mặn thêm. Phú thấy tim mình quặn thắt lại. Phú chẳng sợ cái chết nữa. Phú chỉ nghĩ, chẳng biết hồn mình có nương theo sóng mà về trú ẩn được trong những ngôi mộ gió như dân làng thường bảo không. Mà nếu chẳng về được thì lúc sống, mình cũng đã dâng trọn cho đảo, cho biển trời quê hương. Con cháu ngàn sau nhắc đến những dân binh cũng sẽ nhớ tới mình. Tên mình hòa vào tên các hòn đảo, hòa vào từng ngọn sóng, từng cơn gió và từng khúc hát ru. Ừ! Bây giờ thì Phú đã hiểu những khúc hát ru ở làng An Vĩnh sao mà thê thiết, buồn bã đến thế. Kìa! Là tiếng mẹ ru hay tiếng Thu ru con. Tiếng ru vượt muôn trung khơi, xuyên qua giông tố để bao bọc hồn Phú. “À ơi… Chiều chiều ra ngóng biển xa… Ngóng ai đi lính Hoàng Sa chưa về…”*. Kìa! Có phải tiếng ốc u đấy không. Tiếng ốc u trầm hùng trườn trên sóng tiễn Phú về với biển cả. Sóng đã xô chiếc ghe lật úp. Phú chỉ kịp nghe tiếng ai đó reo lên: “Cá ông về! Cá ông về…” rồi sóng cuốn Phú vào lòng biển. Phú chẳng còn thấy đau, chẳng còn thấy sợ. Phú chỉ thấy một người đưa tay cầm lấy tay Phú. Người ấy có nụ cười hiền y hệt như cha. Ông nội. Ông nội dắt Phú đi. Hai ông cháu bay xuyên qua từng lớp sóng, vượt lên trên cơn lốc dữ theo hướng làng An Vĩnh mà bay về”.

Chẳng biết từ lúc nào, nước mắt đã ướt đầm má chị. Trời đã gần về sáng rồi. Chiếc vỏ ốc trên tay bà cụ như sáng lấp lánh, như vắt ra những tiếng vọng về từ cõi thinh không.

“Nhờ có cá ông đến cứu nên đoàn dân binh còn được ba chiếc ghe trở về. Bão tan rồi, những người còn lại nhìn nhau chua xót. Để ghe khỏi chìm, những tấm chiếu, những cuộn dây mây, những thanh nẹp tre cũng đã ném hết xuống biển, chẳng còn gì để tiễn biệt người đã khuất. Chỉ còn tiếng ốc u buồn bã, thê thiết. Ông Thuận úp mặt vào hai bàn tay, nước mắt rỉ quánh qua kẽ tay, mặn hơn cả nước biển. Ông mồ côi cha từ năm ba tuổi. Đứa cháu nội của ông lại mồ côi cha từ lúc chưa chào đời. Nhưng ông chẳng thể nào làm khác được. Đàn ông ở làng An Vĩnh, chẳng ai có thể làm khác được. Ông sờ vào túi áo. Nơi ấy có mấy hạt giống Phú lấy được trên đảo, bảo mang về nhà trồng trước sân. Thanh niên tính đểnh đoảng sợ làm rơi nên nhờ cha giữ hộ. Đã gần về đến nhà rồi, ông mất con, chỉ còn giữ được mấy hạt cây nó gửi. Chẳng biết vợ ông, con dâu ông, đứa cháu nội sắp chào đời của ông có trách ông không nữa. Giá như có thể đổi được, ông sẵn sàng đổi lấy cho con trai ông được trở về.

Đoàn ghe cập bến vào một sớm tháng Tám trong lành và dịu nhẹ. Dân làng ùa ra đón những người con của làng trở về sau hơn sáu tháng trời đối mặt với bao hiểm nguy của biển cả. Có những cái ôm mừng rỡ, cũng có những tiếng khóc ai oán cất lên trước biển. Không thấy bà Thuận và Thu. Thằng cu Sâm chạy ra đón cha bảo chị dâu sắp sinh nên bà Thuận không ra đón đoàn dân binh về được. Ông Thuận vội chạy về, bỏ mặc thằng Sâm đứng ngơ ngác trên bến vì không thấy anh trai đâu. Ông vừa vào đến cổng thì tiếng khóc chào đời của đứa bé vang vọng khắp nhà. Tiếng khóc to lớn, mạnh mẽ của một đứa con trai sinh ra từ làng An Vĩnh. Ông Thuận lấy túi hạt ra, trồng trước cổng. Cây ơi lớn nhanh che bóng mát cho cháu ông. Cháu ơi lớn nhanh thay cha chăm sóc mẹ, thay cha trồng những cây xanh trên đảo, để lại cho con cháu mình ngày sau, ngày sau nữa…”

Đêm đã tàn. Bà cụ ngồi cúi đầu bên bậc thềm, chẳng biết bà nghĩ gì trong cõi nhớ quên của mình. Trên tay bà vẫn giữ chặt chiếc vỏ ốc. Đứa cháu trai của bà cụ đã dậy, đưa chị đến cột cờ. Cậu trai hiền lành, chất phác trạc tuổi con chị nở nụ cười chân chất phô hàm răng trắng:

- Cả đêm không ngủ mà cô không thấy mệt ạ. Chắc tiếng của bà nội làm cô không ngủ được. Mấy năm nay, bà nội cứ nhớ nhớ quên quên nhưng những câu chuyện về những người dân binh của Hải đội Hoàng Sa từ ngày xưa kể lại thì bà chẳng quên chi tiết nào. Bà nội là con dâu của dòng họ Võ Văn lập nghiệp ở làng An Vĩnh mấy trăm năm rồi cô ạ. Ngày xưa, ông nội cháu là ngư dân, bám ngư trường đụng độ với tàu lạ rồi không về. Anh trai cháu bây giờ là cảnh sát biển, bảo vệ người dân, bảo vệ ngư trường, thềm lục địa cô ạ…

Câu chuyện của cậu trai kéo dài trên quãng đường tới cột cờ. Chị ngước mắt nhìn lên. Trong nắng, lá cờ tổ quốc kiêu hãnh tung bay trước gió. Chị đứng từ trên đấy, nhìn ra phía biển. Phía ấy, con trai chị đang sống và làm việc. Chỉ cách đây mấy tháng, nó xung phong ra đảo dạy học. Nó bảo, không thể trở thành một người lính như cha, nó vẫn muốn được gắn bó một phần cuộc đời mình với đảo. Sau đó, nó sẽ trở về, kể cho chị nghe những câu chuyện giữa trùng khơi mà cha nó chưa kịp kể cho chị nghe. Chắc chắn, đó sẽ là những câu chuyện vui và đầy tự hào. Chị nắm chặt chiếc vỏ ốc trong tay, nâng lên. Như là gió, như là nắng và như là cả tiếng sóng biển đang thu vào trong lòng chiếc vỏ ốc…

 

*: Ca dao Lý Sơn

 


Tin liên quan