A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Mưa đầu mùa

Truyện ngắn của CAO VIỆT CƯỜNG

Tôi trở về Đắk Măng vào một ngày đầu mùa mưa. Không hẹn trước, không lên kế hoạch, ý muốn trở về chợt nảy ra và bắt đầu thôi thúc tôi vào đêm hôm trước, một đêm mất ngủ như hàng trăm đêm đã qua. Chỉ khác là đêm có mưa và tôi không còn vùi đầu vào gối, cố nhắm mặt, bịt tai để không nghe tiếng mưa gõ từng hồi trên mái tôn, lúc dồn dập, lúc đều đều. Tôi cũng không cần phải dùng đến những viên thuốc an thần để dỗ mình vào giấc ngủ. Nằm trong căn phòng trọ nhỏ, thấp lè tè, lúc nào cũng hầm hập như thể bao nhiêu cái nóng nực, oi ả của cả một ngày dài đã tràn vào, cô đặc trong phòng để dành tỏa nhiệt trong đêm tối, đếm từng tiếng mưa lao xuống mái tôn rồi vỡ tung tóe, tôi chợt nhớ đến Đắk Măng. Mảnh đất đã mấy năm qua tôi không dám trở về dẫu chỉ một lần. Tôi chạy trốn quá khứ, chạy trốn mình và chạy trốn những ký ức cứ nghĩ rằng đã mơ hồ nhưng chỉ cần chạm vào lại tứa máu. Thật lạ, đêm mưa hôm trước, nghĩ và nhớ đến Đắk Măng, tôi không còn cảm giác khó thở, không còn cảm giác như hàng nghìn, hàng vạn con côn trùng rỉa rói thân mình, gặm nhấm từng tế bào của mình đến khi đau quá không chịu nỗi mà ngất đi nữa. Có một điều gì đó thôi thúc tôi trở về, đối diện với nó một lần trong đời.

Chiếc xe buýt liên tỉnh thả tôi ở đầu dốc. Cậu lơ xe ném cho tôi cái nhìn ái ngại trước khi chiếc xe thả một làn khói trắng rồi bám theo con đường đèo quanh co, khuất dần vào những vạt rừng xanh ngắt hai bên đường. Muốn vào đến Đắk Măng, phải vượt qua một con dốc dài gần chục cây số. Con dốc dài và hẹp, gồ sống trâu, mùa khô xe máy còn có thể ráng chạy chứ mùa mưa chỉ đành chịu chết. Đất cứ dẻo quánh lại, ghì chặt xuống bánh xe khiến chiếc xe như bị dính vào đất, chúi xuống mà đổ kềnh cả người và xe, ngoi lên được thì người ngợm, đồ đạc vàng quạch thứ đất đỏ nhão nhoẹt, bết dính. Tôi xắn quần, xách dép, xốc lại chiếc ba lô chuẩn bị tâm lý “chiến đấu” khi nghĩ đến trận mưa đêm hôm trước. Nhưng rồi, tôi có thể thở phào nhẹ nhóm khi rẽ vào khúc cua, con dốc hiện ra trước mắt tôi hoàn toàn khô ráo và dễ đi vì đã được rải đá mạt. Có lẽ những người dân ở đây đã làm lại con đường để trẻ con đi học được thuận tiện hơn. Qua thời gian, điều gì cũng phải khác. Chỉ có nỗi đau của tôi là cứ nằm im mãi ở đấy, mỗi ngày trôi qua lại thêm tấy buốt, xót xa.

Tôi ngồi nghỉ ở gần gốc đa tỏa bóng mát ngay tại bến nước đầu bon. Một tốp con gái ra bến lấy nước, thấy người lạ thì tò mò nhìn rồi trêu đùa nhau cười khúc khích. Vừa lấy nước, họ vừa ngân khe khẽ những giai điệu của người M’nông. Tiếng hát hòa vào dòng suối, dội vào vách đá, quyện với tiếng thác ầm ì vọng về từ phía rừng già rồi bay trở về rì rào trên vòm cây. Họ đi về bon rồi, tiếng hát, tiếng cười vẫn còn quấn quýt. Tôi nán lại dưới gốc đa, hít căng lồng ngực không khí trong lành. Tôi vẫn còn nhớ, dân làng trong bon bảo đây là cây thần linh của bon làng. Bến nước có cây thần linh là nguồn sống của bon làng nên ai cũng phải trân trọng và giữ gìn vệ sinh bến nước, giữ gìn vệ sinh quanh cây. Đã có những câu chuyện nửa hư nửa thực về những kẻ có tâm địa xấu xa, không ngay thẳng, buông lời bất kính, khi đến bến lấy nước về uống đều bị đau bụng, ốm liên miên. Tôi nhắm mắt, nghe tiếng gió thổi trên vòm lá xào xạc. Trong đầu như vang lên giọng nói của em. Trong một đêm xoang bập bùng ánh lửa, em đã kể cho tôi nghe câu chuyện về cây thần linh của người dân Đắk Măng, câu chuyện em được nghe già làng kể lại. Truyền thuyết kể rằng, từ thời xa xưa, bon Đắk Măng có một người con gái hiền lành, tốt bụng, ngoan ngoãn lại hay giúp đỡ mọi người nên dân làng ai cũng quý, cũng yêu. Nhiều chàng trai muốn được nàng bắt về làm chồng. Một ngày nọ, nàng đi lấy nước ở bến nước đầu bon thì trời đất đột nhiên tối sầm lại, trời đổ một trận mưa tuyết lớn ập xuống. Người con gái ngoan hiền, là bông hóa quý của núi rừng, của dân làng ấy tránh không kịp nên bị ngã xuống bến nước, bị lạnh đóng băng và chết. Một thời gian sau, nơi nàng chết mọc lên một cây đa xanh tốt. Nàng báo mộng cho già làng và người dân trong bon biết cây đa chính là bản thân mình. Nàng sẽ mãi mãi bảo vệ bon làng, bảo vệ nguồn nước. Kể xong, em bảo những người con gái tốt, xinh đẹp thường thiệt thòi nhưng lúc nào họ cũng sẵn sàng hi sinh bản thân mình. Tôi làm sao có thể ngờ được, những lời xót xa của em đã dự báo cho số phận của em và tôi sau này.

Mảnh trăng non đã nhú lên ở phía bìa rừng rồi từ từ trôi lại, soi bóng xuống bến nước khiến nước như sáng bừng lên, lấp lánh. Tôi xốc ba lô, đi về phía bon. Những người phụ nữ đi làm rẫy, đi rừng hái măng, hái lá bép, đọt mây về thành từng tốp, vừa đi vừa chuyện trò. Những chiếc gùi đung đưa theo nhịp chân bước, tỏa ra hương cà phê chín ngọt, hương hồ tiêu cay nồng, mùi lá nhíp chua dịu quyện với đọt mây đắng ngắt. Hương của đất, của rừng, của núi đồi, nương rẫy. Có đứa trẻ con theo mẹ đi rẫy về được địu trước ngực, mút ngón tay xoe tròn cặp mắt đen láy nhìn ngắm xung quanh, ngắm chán lại gục đầu vào ngực mẹ mà ngủ. Thấy tôi, họ ngừng câu chuyện, đưa ánh mắt dò xét. Một người phụ nữ đeo một chiếc gùi nặng sau lưng, phía trước địu con nhỏ bất chợt reo lên khe khẽ:

- Ơ kìa! Có phải là cán bộ Tùng đấy không? Sao mấy năm rồi chú mới lại về thăm bon thế. Bao lâu nay, người trong bon cứ nhắc đến chú mãi.

Ánh trăng soi lên khuôn mặt của người phụ nữ, làm nổi bật khuôn mặt tròn ngăm đen, cặp mắt sâu thẳm lúc nào cũng phảng phất một nỗi buồn. Tôi nhận ra H’Loan dù đã mấy năm trôi qua, cuộc sống vất vả khiến chị đã già thêm. Chiếc gùi trên lưng ngày qua ngày khiến lưng chị đã còng xuống. Vậy mà chị vẫn có thêm một đứa bé nữa. Tôi chào chị và những người phụ nữ mỉm cười khi nghe đến tên tôi, đưa tay đón chiếc gùi trên lưng chị, khẽ bảo:

- Chị để em gùi giúp cho. Bé được bao nhiêu tháng rồi chị.

H’Loan không từ chối. Chị đưa chiếc gùi cho tôi, xoa đầu đứa bé đang ngủ, miệng ngặm chặt bầu ngực mẹ, ngượng nghịu:

- Cháu được gần một tuổi, bằng thời gian chồng chị được Nhà nước tha về.

Câu chuyện rơi vào im lặng. Tôi lắng nghe bước chân mình chạm xuống đất Đắk Măng. Thấy cơ thể mình căng cứng. Thấy những điều gì đó nửa như sợ hãi, nửa như đau đớn từ lòng đất chui lên, luồn lách trong từng mạch máu của mình giống hệt một đàn kiến tí xíu tò mò tìm hiểu hết các ngóc ngách trong cơ thể. Nhiều lần, khi tham gia những chuyến công tác ở các địa bàn phải chạy qua con đường dẫn vào Đắk Măng, tôi thường nhắm mắt, cố để cho đầu óc mình trắng xóa cho đến khi xe chạy qua nếu đi ô tô. Còn khi phải tự chạy xe máy, tôi thường phải lẩm nhẩm một câu gì đó tự động viên tinh thần, tự xác định bản thân mình là ai và đang làm gì để giữ vững tay lái. Chạy qua rồi, lưng áo tôi ướt sũng mồ hôi. Đôi lần trong những năm tháng ấy, tôi bắt xe, xuống ở đầu dốc, xốc ba lô tự đặt cho mình quyết tâm phải vào Đắk Măng. Nhưng rồi khi bàn chân chạm những bước đầu tiên trên con đường tới bến nước đầu bon, nỗi đau ùa đến, xé nát tôi, đốt cháy quyết tâm của tôi. Tôi quay đầu lại, chạy thục mạng như một kẻ hèn nhát không dám đối diện với kẻ thù. Nhưng nói kẻ thù cũng chẳng đúng. Chưa bao giờ Đắk Măng là kẻ thù của tôi. Đắk Măng chỉ là nơi chôn giấu nỗi đau và niềm hối hận chưa bao giờ nguôi trong tôi.

Tôi trao lại chiếc gùi cho H’Loan, từ chối lời mời của chị vào nhà dùng cơm tối. Tôi không thấy đói và chưa muốn ăn. Người đàn ông trong nhà nghe tiếng vợ về thì chạy ra đón. Trên tóc anh ta còn dính những vụn lá khô. Chắc anh ta cũng mới đi làm thuê về. Thấy tôi, người đàn ông hơi khựng lại, cúi đầu. Có lẽ anh ta nhận ra tôi và thấy mặc cảm. Cũng có thể chỉ là một thói quen khi thấy người lạ. Tôi gật đầu chào rồi quay lưng đi về phía nhà trưởng bản. Giọng H’Loan với theo:

- Sáng mai bon làm lễ cúng mưa đầu mùa đó Tùng à.

Ánh trăng tãi giọng chị ra khiến tiếng “à” cuối câu ngân lên rồi hòa vào không gian mênh mông, đen sẫm của đêm cao nguyên. Đứa bé giật mình thức giấc, ọ ẹ đòi sữa mẹ. Người chồng khẽ hỏi chị H’Loan câu gì đó nhưng tôi chẳng nghe thấy. Bước chân tôi đang trôi đi.

Tôi và em đã từng cùng dự lễ cúng mưa đầu mùa ở Đắk Măng. Em say mê, hòa mình vào lễ cúng như đã hòa mình vào cùng với bà con nơi đây. Lúc ấy, em háo hức như một đứa trẻ, dõi cặp mắt để lưu giữ hết những gì mình nhìn thấy. Lễ cúng mưa đầu mùa là một trong những nghi lễ truyền thống được truyền lại bao đời của người M’nông. Dân làng mong thần mưa ban cho một năm mưa thuận gió hòa, ban cho cây cối lên xanh, đâm chồi nảy lộc, cho cuộc sống bon làng ngày càng giàu đẹp. Người M’nông từ ngàn đời nay vẫn truyền lại cho con cháu quan niệm mưa đầu mùa là cơn mưa độc, có thể mang lại nhiều điềm xấu cho bon làng. Vậy nên dân làng M’nông, những người con của rừng, của núi vào cứ vào tháng 11 hàng năm lại tổ chức cúng Giàng để cầu xin các Giàng phù hộ cho những điều tốt đẹp, giải hạn xấu trong năm. Em đã tham gia lễ cúng mưa đầu mùa, đã xin Giàng phù hộ, đã xin Giàng giải trừ những điều xấu. Vậy mà mùa mưa năm ấy tôi vẫn mất em.

Đắk Măng đã đón tôi và em, chấp nhận để tôi và em ở lại, làm lụng kiếm miếng ăn như cái cách mà người dân M’nông sống dựa vào dãy Nâm Nung hùng vĩ mở lòng đón những người đồng bào dân tộc phía Bắc vào sinh sống, làm ăn. Đất mênh mông thế, màu mỡ thế, chia sẻ cho đồng bào mình cùng làm, cùng thoát nghèo. Khác dân tộc nhưng cũng chung đất, chung nước mình cả. Tôi và em là một cặp vợ chồng trẻ, từ ngoài Bắc vào kiếm việc làm thuê theo lời rủ rê của người bà con. Hai đứa thuê một căn nhà gỗ cũ của một người phụ nữ già hiền lành, chịu khó sống cùng mấy đứa cháu nhỏ nhít. Căn nhà là nhà của con trai bà, bỏ không vì dính vào ma túy bị bắt đi tù. Người con dâu sau khi chồng bị bắt cũng bỏ đi đâu chẳng có tin tức. Có người bảo cô con dâu không phải bỏ đi mà bị lừa bán sang bên kia biên giới. Con trai đi tù, con dâu bị lừa bán, người phụ nữ già với chiếc lưng còng khiến khuôn mặt lúc nào cũng phải cúi xuống ấy lại tiếp tục cúi thấp xuống, lần tìm trên mặt đất những gì có thể kiếm được để nuôi mấy đứa cháu. Có người thuê nhà, bà mừng lắm. Ít nhất mỗi tháng bà có thêm mấy trăm ngàn để mua gạo, đắp thêm vào với những bữa rau rừng, cà đắng, đọt mây và mấy con cá suối mà đứa cháu lớn bắt được. Căn nhà gỗ xiêu vẹo để không lâu ngày, bước vào thấy bụi bay mù mịt, bụi gỗ rơi lả tả, đậu trên tóc trắng xóa. Tôi dành ra một buổi chiều đóng lại những chỗ ván bị cong, vênh vì mưa nắng, lợp lại cái mái tôn thủng lỗ chỗ. Em lau dọn lại. Bàn tay khéo léo, chăm chỉ của em còn tranh thủ trồng những bụi hoa trước nhà. Căn nhà như bừng lên một sinh khí mới dù rằng chỉ là chốn ở tạm một thời gian. Em đã bảo với tôi:

- Sau này mình không ở đây nữa thì ba bà cháu có thể dọn về đây ở. Chứ căn nhà bà đang ở cũng cũ nát quá rồi. Mình cố gắng sớm được chừng nào hay chừng ấy anh ạ.

Tôi cũng đã tính phải thật thận trọng, phải thật tỉ mỉ nhưng cũng cố gắng hoàn thành sớm nhất có thể. Tôi và em đã bàn tính đến chuyện làm đám cưới. Nghĩ đến việc em trở thành cô dâu của mình, ngay cả trong mơ tôi cũng cười.

Tôi nhìn xuống bóng mình in trên con đường đất đỏ quạch, thầm tưởng tượng bóng em đi sát bóng tôi. Trăng phủ lên chiếc bóng thứ ánh sáng bàng bạc, lạnh lẽo. Như mới chỉ đây thôi, hai cái bóng còn chụm đầu vào nhau, tôi lặng im nghe tiếng em cười khúc khích. Bây giờ, chỉ có một chiếc bóng nghiêng bên nào cũng thấy nhớ, nghiêng bên nào cũng thấy chơi vơi. Cảm giác cô độc khiến tôi nghẹn ứ. Tôi ngước nhìn lên. Trên nền trời đen thẫm, rộng lớn bao khắp cả núi rừng, vầng trăng cũng một mình cô độc quá. Những tia sáng chiếu xuống nhạt nhòa như những tia nước mắt. Tôi chẳng dám nhìn nữa. Hai nỗi cô độc, một trên trời, một dưới đất va vào nhau khiến nỗi cô độc như tăng gấp hai. Bước chân vô định đưa tôi đến trước căn nhà gỗ tôi và em đã từng sống trong vai một cặp vợ chồng thay vì đến nhà trưởng bon như đã dự định. Cây hoa giấy chính tay em trồng đã lớn, được uốn cong thành một vòm cổng xinh xắn vừa đủ cho hai người cùng bước vào. Dưới ánh trăng, những cánh hoa tím hồng như được viền thêm lớp nhũ bạc óng ánh. Bà cụ chủ nhà và mấy đứa cháu đã dọn đến đây sống. Hình như lưng bà cụ lại còng thêm một chút, nhưng mấy đứa trẻ thì đã lớn lên, biết đỡ đần bà nội. Bà cụ ngồi bên thềm nhà, đưa bàn tay lần lần chậm rãi từng chút một bó mấy bó lá nhíp, đọt mây để sáng mai đứa cháu gái lớn tranh thủ mang ra chợ bán. Trong nhà vọng ra tiếng ti vi và tiếng cười của mấy đứa trẻ. Nhìn căn nhà sạch sẽ, khoảng sân được đổ xi măng thay cho lớp nền đất, mấy chậu hoa hồng bung cánh bên cửa sổ, tôi biết cuộc sống của mấy bà cháu đã đỡ vất vả và có phần khấm khá hơn. Mà chẳng riêng gì nhà của mấy bà cháu, bon Đắk Măng cũng đã thay đổi nhiều. Tôi để ý thấy nhiều ngôi mà mới được dựng lên, dẫu còn đơn sơ, nhỏ bé nhưng cũng khiến Đắk Măng như có thêm sức sống hơn so với hồi tôi và em còn ở đây. Người M’nông hiền hậu và phóng kháng đón nhận, cưu mang, chung sống hài hòa với bất cứ ai tìm đến, lập nghiệp, bám vào đất, vào suối để sống. Nhưng chẳng ngờ, trong số ấy lại có những kẻ vì đồng tiền chấp nhận bán mình cho quỷ dữ, vì đồng tiền mà sẵn sàng gây hại cho kẻ khác.

Chẳng hiểu từ đâu và từ bao giờ, cái bon nhỏ nằm gần rừng, có dòng suối quanh năm trong vắt chảy qua và cây đa thần linh từ bao đời tỏa bóng mát che chở bỗng trở thành một điểm nóng về ma túy, tan hoang, xơ xác bởi ma túy.

Em đã có lần quay đi lén lau giọt nước mắt khi nhìn thấy những đứa trẻ trên người chỉ có một manh áo rách, lấm lem nhựa cây, bùn đất túm tụm chơi với nhau trước những căn nhà bỏ hoang, có mọc um tùm che kín đầu người. Đứa không cha, đứa không mẹ, đứa ở với bà, đứa sống với ông. Có những đứa chẳng có ông bà cũng chẳng được sống cùng bố mẹ vì ông bà đã mất hết, bố mẹ thì bị bắt do tham gia vận chuyển trái phép chất ma túy. Đứa lớn nhất ngày ngày đi kiếm củi, rau rừng, xuống suối mò ốc, bắt cá, đứa nhỏ hơn chưa làm được việc nặng thì trông em. Mấy đứa trẻ con níu vào nhau mà sống, hồn nhiên và hoang dại như cây cỏ, tưởng như chẳng gió mưa nào dập vùi được. Hàng xóm xung quanh thương tình, lâu lâu cho bơ gạo, chai nước mắm, đỡ được chút nào hay chút ấy. Nhưng ai cũng nghèo, ai cũng khó. Mỗi mái nhà đều chứa đựng những câu chuyện thương tâm.

Đó là người đàn bà vừa bước qua tuổi năm mươi mà mái tóc như đã bạc trắng hơn quá nửa. Đôi mắt của chị trong những buổi chiều tà ngồi bên thềm cửa là đôi mắt rầu rĩ và tuyệt vọng. Nó ám ảnh đến mức khi nhìn vào người ta không còn thấy một chút sinh khí nào trong đôi mắt ấy. Người đàn bà ấy từng có một mái ấm hạnh phúc, dẫu cuộc sống vất vả, lam lũ nhưng bình yên, sum vầy, trong nhà lúc nào cũng vang lên những tiếng cười ấm áp. Công việc trồng rừng, làm rẫy cũng tạm đủ ăn, đủ mặc và cho con cái đi học. Nhưng chẳng hiểu thế nào mà Giàng phạt chị. Ba đứa con trai của chị đều dính vào ma túy, bỏ học giữa chừng. Một đứa chết vì sốc thuốc sau khi đã bòn rút những đồng tiền cuối cùng của cha mẹ để đốt theo làn khói trắng. Một đứa bỏ nhà lên thành phố để kiếm tiền phục vụ cho cơn nghiện rồi bị bắt khi đang bán lẻ ma túy cho các con nghiện khác. Còn đứa thứ ba nằm thoi thóp chờ chết với những vết thương lở loét, bốc mùi hôi thối từng ngày. Đau buồn và bất lực, xấu hổ với hàng xóm láng giềng và tự trách mình không dạy được con, người chồng của chị đã tìm đến cái chết. Xác của anh được tìm thấy trên một thân cây gần bìa rừng. Cái xác ướt trụi vì mưa gió, sương đêm, bị mất một bàn tay do thú hoang tha đi mất. Anh treo cổ mấy ngày người nhà mới tìm thấy. Đến tận lúc chết mà chồng chị vẫn phải chịu khổ.

Chồng chết, con đứa chết, đứa nằm chờ chết, chị chỉ có thể gửi niềm hi vọng vào đứa con gái lớn lấy chồng gần nhà. Nhưng rồi đứa con gái lớn và con rể cũng tham gia buôn bán ma túy. Chị sống trong nỗi sợ hãi bất chợt một buổi sớm hay một buổi chiều nhập nhoạng ánh sáng bóng tối đan xen, đứa con rể và con gái bị bắt, hai đứa con của chúng nó sẽ nheo nhóc. Chị cũng đã thấy cơ thể mình rệu rã lắm rồi, chẳng biết còn sống được bao nhiêu năm nữa để nuôi cháu. Những cái chết ập xuống gia đình khiến chị sụp đổ, bệnh tật liên miên. Chị không dám ngủ. Vừa thức để chăm sóc đứa con trai đang suy yếu từng ngày, vừa ngóng sang nhà đứa con gái, tim nảy lên mỗi khi nghe tiếng bước chân, tiếng nói ở phía ấy. Lắm lúc, chị cũng muốn như chồng, kết thúc cuộc sống đằng đẵng không có lấy một tia hi vọng vào ngày mai này. Nhưng còn đứa con trai. Nó có sao thì cũng là con của chị, chị chết rồi ai chăm sóc nó. Còn hai đứa cháu ngoại. Bố mẹ nó theo cái nghề này, sớm muộn gì cũng phải chịu trừng phạt. Lúc ấy, ai chăm sóc chúng, nuôi nấng chúng. Liệu rằng chúng có đi theo con đường của bố mẹ chúng, của các cậu. Bởi vậy mà dẫu tuyệt vọng, chị vẫn phải cố sống từng ngày. Chỉ là trong đôi mắt chị, ánh sáng cứ từng ngày từng ngày lịm tắt, nhường chỗ cho những khoảng tối mênh mông.

Trong bon có một người đàn bà điên. Người đàn bà điên chiều nào cũng đi lang thang ngoài bìa rừng, gặp ai bà cũng túm lấy, ngước cặp mắt ngây dại, thều thào:

- Trả lại con cho tao! Trả lại con cho tao!

Người đàn bà ấy là bà Thắm. Tên cũng như người, hồi chưa bị điên, bà Thắm đẹp mặn mà, rực rỡ như cánh phượng rừng mỗi mùa hè lại bừng cháy lên khiến một khoảng rừng thắm trong sắc hồng, sắc đỏ. Bà Thắm cùng chồng là những người Kinh đầu tiên vào bon sinh sống, buôn bán. Vợ chồng bà mở cửa hàng tạp hóa, mỗi tháng một lần đánh con xe Minsk chở tiêu, cà phê, rau rừng, măng rừng và các loại đặc sản ra thị xã bán rồi lại lấy hàng gạo, dầu, mắm, muối đủ loại vào bán cho bà con. Nhà bà Thắm là nhà giàu nhất bon. Nhưng khi ma túy theo chân kẻ xấu lẻn vào Đắk Măng thì việc làm ăn của nhà bà Thắm cũng thay đổi. Chồng bà Thắm không chịu khó làm ăn như trước nữa mà quyết tâm đổi đời bằng cách đi buôn ma túy. Ông ta không muốn sống trong cái bon gần rừng này nữa. Ông ta muốn mua đất, xây nhà, mua xe con ở ngoài thị xã, muốn người nhà ở quê khi vào thăm phải trầm trồ kính nể chứ không phải nhìn con đường sống trâu gồ ghề mà chùn chân muốn quay ra. Lòng tham đã khiến ông ta mờ mắt, mặc cho người vợ đẹp khuyên can hết lời, khóc hết nước mắt. Bà Thắm sợ lắm. Từ bé, mẹ bà đã dạy bà bất cứ ai làm ác cũng sẽ chẳng thể nào thoát khỏi sự trừng phạt của Trời, Phật. Bà còn sợ rằng “đời cha ăn mặn thì đời con khát nước”. Bà và chồng có đứa con trai đẹp như một thiên thần. Thằng bé ngoan ngoãn, học giỏi, là tương lai, là niềm hi vọng của bà.

Trời Phật có mắt, kẻ nào gieo cái ác sẽ bị trừng trị. Nhưng con trai bà có tội tình gì đâu mà phải chịu cái chết oan ức và tức tưởi. Một thằng nghiện mâu thuẫn với bố nó đã rút dao đâm chết thằng bé. Thằng bé chết mà không hiểu chuyện gì xảy ra, ánh mắt nó tròn xoe nhìn bà như muốn hỏi “Mẹ ơi tại sao thế? Con còn chưa kịp làm hết bài tập cô cho, con còn chưa nghĩ ra món quà sinh nhật để tặng bạn An ngồi cùng bàn. An đã hứa sẽ xin mẹ mua một chiếc bánh kem có siêu nhân và cho con ăn chung. Bức tranh con vẽ tặng mẹ cũng còn chưa tô màu xong...”. Mãi mãi, thằng bé không thể nghe được câu trả lời cho câu hỏi ấy. Mãi mãi bà Thắm sẽ chẳng bao giờ quên được ánh mắt cuối cùng của đứa con trai bé bỏng, đứa con trai mà mỗi lần bị một vết muỗi đốt thôi bà còn thấy đau như ai cứa vào gan ruột. Để quên đi ánh mắt ấy, bà chìm vào điên loạn. Chồng bà cũng bị bắt rồi, bị bắt ngay sau khi đứa con trai chết oan uổng.  Gặp ai, bà Thắm cũng túm lại đòi con. Chỉ khi gặp mấy đứa trẻ con bà mới bình tĩnh lại. Bà nhìn chúng chơi bằng ánh mắt say mê, trên môi nở nụ cười ngờ nghệch.

Tôi cũng như suýt phát điên khi chứng kiến khoảnh khắc cuối cùng em nằm trong tay tôi. Hàng ngàn lần trong mơ tôi nức nở gọi tên em. Ước muốn của em, lý tưởng em cống hiến bằng cả cuộc đời chỉ kéo dài hơn hai mươi năm của em đã níu tôi lại, giằng tôi bên bờ vực của sự mất trí. Trong những giấc ngủ được tạo bằng thuốc an thần, tôi mơ thấy em trở về, bóng trắng nhập nhòa, nụ cười nhập nhòa, ánh mắt cũng nhập nhòa. Chỉ còn vết máu là đỏ rực lên, loang trên ngực áo như một đóa hoa. Vết máu loang từ áo em sang tay tôi, bỏng rát như lửa cháy, ăn mòn da tay tôi như axit. Tôi bật dậy, cổ họng khô khốc. Giá như trong mơ tôi có thể khóc được thì mắt tôi sẽ bớt cay và tim thôi như có ai đó bóp nghẹt lấy.

Ánh mắt của người đàn bà tóc bạc trắng ngồi bên thềm cửa, của người đàn bà bị điên khiến em thêm quyết tâm với sự lựa chọn của mình. Cái bon Đắk Măng vốn đông đúc, người M’nông, người Mông, người Thái, người Dao, người Kinh sống yên bình, hòa hợp với nhau dần trở nên vắng lặng. Người chết vì sốc thuốc, người bị bắt do buôn bán, người bị đi cai nghiện. Bon còn toàn người già, phụ nữ và trẻ nhỏ. Số đàn ông, thanh niên còn lại thì tập trung về nhà Quang, thành tay chân của Quang hết khiến em nhớ tới những đêm xoang bập bùng, trai gái ngả nghiêng bên ánh lửa, nhớ tới những ngày vui của lễ cúng mưa, cúng lúa đầu mùa mà xót xa, mà day dứt. Trưởng bon vẫn cúng Giàng mỗi đầu mùa mưa, vẫn cúng bến nước cầu xin cây thần linh che chở, phù hộ cho bon làng. Nhưng Giàng giận người sống ác, cây thần linh giận người sống ác nên bon mỗi ngày một tiêu điều, xơ xác. Em nhớ ngôi làng hiền hòa nơi em sinh ra và lớn lên, nhớ những đứa bạn thuở nhỏ chăn trâu, tắm sông, hiền lành như hạt lúa củ khoai bỗng một ngày hóa thành ác quỷ, đâm cha, đẩy ngã mẹ chỉ vì lên cơn nghiện mà không xin được tiền mua thuốc. Em bảo phải loại trừ cái chất độc ấy bằng bất cứ giá nào, dẫu có phải hi sinh. Tôi đã đưa tay chạm lên môi em, ngăn em đừng nói những điều xui rủi. Tôi đã nắm tay em, tràn đầy tin tưởng vào tương lai:

- Chúng mình sẽ loại trừ cái ác ở Đắk Măng, làm đám cưới và loại trừ cái ác ở bất cứ cái bon nào, thôn nào, bản nào, cho đến khi không còn đủ sức nữa.

Chiếc áo cưới em đặt cọc thuê dự định mặc chụp ảnh cưới, tôi đã mua về. Nhưng em chẳng bao giờ có thể khoác nó lên mình, dẫu chỉ một lần.

Đỗ Văn Quang là một gã đàn ông theo cha mẹ vào Tây Nguyên lập nghiệp từ lúc còn bé tí. Bố mẹ gã là những người chịu khó, chăm chỉ và thật thà. Được mảnh đất này cưu mang, bố mẹ luôn dặn gã phải sống tốt để trả ơn đất. Vậy mà chẳng hiểu sao khi bố mẹ nối nhau đi theo ông bà, gã trở nên lì lợm, phá phách và bất cần đời. Gã bỏ nhà đi gần chục năm, người trong bon ngỡ như gã chẳng bao giờ quay lại nữa thì bất thình lình một ngày gã trở về. Hôm ấy, giông trắng trời. Cây cối  trong rừng vặn mình răng rắc. Con thác phía rừng giận dữ gào thét, đi đến tận cuối bon vẫn còn nghe tiếng. Gã trở về, cái đầu cạo trọc, trên người chi chít những hình xăm. Gã mang cái xấu, cái chết chóc về cho bon. Thanh niên bỏ học theo gã, trở thành tay chân của gã.

Tôi và em có nhiệm vụ theo dõi, làm quen và tạo được niềm tin của Quang để thâm nhập vào đường dây ma túy len lỏi vào các buôn làng thông qua những cánh rừng giáp biên giới. Trải qua biết bao lần tiếp cận nhờ “người mối lái”, qua biết bao thử thách, Quang mới dần tin tưởng em và tôi. Người dân trong bon dần xa lánh tôi, ném cái nhìn căm giận về phía em. Người đàn bà điên có lúc đã chặn em, cào cấu, giật tóc em, gọi em là quỷ dữ. Giá mà không phải vì nuôi mấy đứa cháu trong khi đã già yếu, không còn nguồn thu nhập nào khác, có lẽ bà cụ chủ nhà cũng đuổi tôi và em không cho thuê nữa. Em không buồn. Em bảo như thế em lại thấy hạnh phúc vì bà con trong bon từ người tỉnh đến người điên vẫn căm giận ma túy như thế. Chỉ cần xóa bỏ ung nhọt, cuộc sống của bon làng sẽ hồi sinh.

Khi Quang đã tin tưởng, tôi và em đã nói với Quang rằng có một mối lớn, làm ăn đẹp, sòng phẳng. Xong phi vụ có thể ôm tiền thoái mái ăn chơi. Em bảo, em cũng chán cái cảnh chui rúc trong xó rừng này lắm rồi, em muốn được hưởng thụ, muốn làm đẹp, muốn sung sướng. Em đẹp còn hơn mấy cô hoa khôi, người mẫu, chẳng có lý gì lại phải chắp nhận cắm mặt vào bìa rừng thế này được. Món lợi khổng lồ đã khiến Quang mờ mắt. Quang liên hệ, sắp xếp tôi và em cùng mối hàng được giới thiệu đi gặp ông trùm.

Con đường lên cửa khẩu hôm ấy bớt đi cái oi nồng, nóng nực do có trận mưa đêm hôm trước. Chiếc xe lúc chồm lên leo dốc, lúc đánh lái uốn lượn theo đèo bỏ lại sau lưng những vệt bụi đỏ quạch. Em tựa đầu vào vai tôi, nhắm mắt nghỉ ngơi. Trong đầu lúc ấy là những tính toán, phương án được vạch ra. Em bảo, trước mỗi “trận đánh”, em thích tựa vào vai tôi, vững chãi và đầy tin cậy. Hành động ấy tiếp thêm sức mạnh và sự tự tin cho em. Tôi chạm tay lên vai mình. Cảm giác ấm nóng và hơi nghiêng sang một bên để chụm đầu mình vào mái tóc của em vẫn còn nguyên đây. Em có biết không?

Hôm ấy, tôi ngồi ngắm em tựa đầu trên vai mình. Đôi má bầu bĩnh, gương mặt ngây thơ, khuôn miệng lúc nào cũng như hơi nũng nịu, trẻ con. Nhìn em, chẳng ai có thể biết em là một trinh sát với nhiều thành tích chống ma túy ngay từ khi mới ra trường. Em đã thâm nhập vào các đường dây ma túy, một mình đối mặt với tội phạm tại nơi hang hùm miệng rắn. Có lúc, em vào vai một ả đàn bà sành sỏi, chanh chua vì tiền mà bất cần, có lúc em vào vai một đứa con gái xinh đẹp nhưng ăn chơi, trượt trong ma túy... Còn lúc tựa đầu vào vai tôi, em như một thiên thần đang say ngủ.

Xe dừng gần biên giới. Từ đây, Quang sẽ bỏ xe lại và dẫn chúng tôi đi theo lối đường mòn xuyên rừng. Dọc đường, gai cào vào tay chân xon xót. Vết gai cào trên cánh tay của em nhìn chói mắt, Quang cứ nhìn xoáy vào đấy, ánh mắt hiện lên vẻ tham lam không che giấu. Gã nheo mắt như tính toán điều gì đó. Đi mãi, đến sát biên giới nước bạn, gã cho “mối hàng” tôi giới thiệu lên chiếc xe chờ sẵn để đến nơi của ông trùm, còn tôi và em gã giữ lại. Tôi toan phản đối nhưng “mối hàng” đã đưa mắt nhìn tôi như bảo cứ yên tâm. Quang dẫn tôi và em trở về theo con đường cũ. Không khí trong rừng mát mẻ mà áo em và tôi đều ướt đẫm mỗ hôi.

Chẳng biết ông trùm đưa ra những thử thách gì, mấy ngày sau Quang bảo tôi liên hệ, ông trùm sẽ giao hàng ở gốc cây cổ thụ, chỗ hôm trước ngồi nghỉ chân. “Mối hàng” chỉ được đi một mình, hàng sẽ được giao vào lúc chiều tối. “Mối hàng” của tôi khó chịu:

- Giao vàng mã cho ma hay sao mà giao vào chập tối, lại còn đi một mình. Ít nhất cũng phải cho thằng Tùng đi cùng. Ai biết các ông giở trò gì. Tiền một đống chứ ít đâu.

Quang cũng quát lại:

- Buôn hàng trắng chứ không phải đi chơi mà chọn giờ đẹp ông bạn ạ. Tôi sẽ cho thằng Tùng đi  theo cùng ông. Nhớ là ngoài ra không còn ai khác đâu đấy.

Tôi đã muốn em ở nhà. Chẳng hiểu sao lần ấy trong tôi đã có những dự cảm xấu. Đêm ngủ, tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn thấy em đang say giấc mới yên tâm. Nhưng em đòi đi. Em bảo để tăng độ tin tưởng cho Quang. Với lại bọn chúng sẽ không đề phòng em vì em là phụ nữ chân yếu tay mềm. Em bảo Quang:

- Nhà tôi chồng ở đâu vợ ở đấy. Ông cứ để tôi đi theo chồng cho yên tâm. Mà thêm một con đàn bà trói gà không chặt cũng chả gây thêm nguy hiểm gì cho các ông.

Thủ trưởng gọi thông báo anh em đã phục ở gần địa điểm giao hàng từ đêm hôm trước. Anh em nằm phơi nắng, phơi sương một đêm một ngày để đảm bảo an toàn nhất cho chúng tôi, để có thể bắt gọn bọn tội phạm mà tránh được những tổn thất đến mức thấp nhất. Tôi cũng đã từng nằm mật phục như thế, mặc mưa nắng, mặc sấm chớp bão bùng, côn trùng cắn đỏ tấy và ngứa phát điên. Nằm im chịu đựng tất cả vì chỉ cần động đậy hay lên tiếng, cái giá phải trả có khi chính là cả mạng sống.

Giọng thủ trưởng nghe như một lời thì thầm:

- Anh em sẽ xông ra ngay lúc chúng nó cầm va ly tiền. Các em cũng phải chạy trốn ngay, đừng để lộ ra sơ hở mà bị bắt làm con tin hoặc bị chúng nó điên cuồng trả thù.

Chập tối, chúng tôi có mặt ở điểm hẹn. Đường rừng âm u, tiếng cú rúc trong đêm tối nghe rờn rợn sống lưng. Đêm có trăng nhưng ánh trăng không đủ sức xuyên  quá tán lá dày, đen thẫm của cây cổ thụ phía trên. Sương lạnh buốt vai áo, đọng cả trên tóc ướt nhẹp. Gió hun hút thổi, vẫn vũ, thê lương. Tôi nắm tay em. Bàn tay em nhỏ bé nằm gọn trong tay tôi. Hai đứa truyền hơi ấm, truyền sức mạnh, niềm tin cho nhau, truyền cho nhau những khát khao cháy bỏng trên hành trình chung một con đường, một ước mơ.

Tôi đi về phía nhà cộng đồng của bon. Từ đây có thể nhìn thấy khoảng rừng xanh thẫm trong đêm trăng. Tiếng côn trùng rỉ rả. Tôi nhìn như muốn xuyên qua cánh rừng kia, xuyên qua cả khoảng trắng nhạt nhòa trong đầu mình. Sau trận chiến ấy, tôi bị trầm cảm. Tôi cố làm cho mình quên đi hết. Quên đi khoảnh khắc lúc tay chân của ông trùm và Quang nhận tiền, các chiến sỹ mật phục ập vào, mắt Quang và đồng bọn vằn lên tia máu đỏ. Tôi muốn quên đi hình ảnh tôi nắm tay em tìm chỗ nấp, đầu em tựa vào ngực tôi, sát đến mức có thể nghe tiếng tim tôi đập trong lồng ngực. Tóc em thơm dịu như cỏ xanh. Tôi muốn mình bị mất trí nhớ mãi mãi để mỗi đêm không mơ thấy em đẩy tôi ra, chắn trước mặt tôi viên đạn từ bọn phục kích bắn lén. Em nằm xuống, ngực áo loang đầy máu. Máu nở rộ như cánh hoa tử thần. Tôi mất em rồi. Mất em mãi mãi. Mà sao từ khoảnh khắc ấy đến tận bây giờ, tôi vẫn chẳng thể nào khóc được. Nước mắt tôi ứ nghẹn lại, vo thành một khối, trĩu nặng những xót xa.

Đơn vị đau lòng trước sự hi sinh của em, xót xa trước những ngày câm lặng của tôi. Anh em bảo hay tôi chuyển công tác để nguôi ngoai. Nhưng tôi xin ở lại. Vì em và cả vì tôi. Nếu chuyển công tác, có lẽ tôi sẽ phát điên.

Người Đắk Măng biết em đã hi sinh để mang lại bình yên cho bon làng, đám tang em họ có mặt hết. Kể cả người đàn bà điên. Bà rửa mặt sạch sẽ, đứng cúi đầu trước tấm ảnh của em và đặt lên quan tài một bông hoa trắng tôi chẳng biết tên.

Tôi sợ Đắk Măng, chẳng dám nhắc đến cái tên ấy. Sợ chạm vào ký ức nóng bỏng. Cho đến đêm hôm trước, có một điều gì đó thôi thúc tôi trở lại.

Tôi cứ nhìn đăm đắm về phía bìa rừng. Mắt tôi hoa lên. Có phải em không. Em đứng đó, mong manh, dịu dàng. Em vẫy tay về phía tôi và mỉm cười. Bao nhiêu đêm rồi, tôi mới lại nhìn rõ khuôn mặt em đến thế. Rồi em tan vào sương đêm, vào ánh trăng, vào đêm rừng thăm thẳm...

Một tiếng kẻng vang lên. Tiếng kẻng báo đã đến giờ đi ngủ. Lúc đứng trước căn nhà cũ tôi và em từng ở, nhìn qua cửa sổ, tôi đã nghe tiếng mấy đứa bé nhắc nhau chú ý nghe tiếng kẻng báo học bài và tiếng kẻng hết giờ học để đi ngủ.

***

Tôi nán lại Đắk Măng xem lễ cúng mưa đầu mùa. Thầy cúng tiến hành nghi thức cùng trong nhà. Tiết gà từ hai bên khóe mỏ con gà trống hòa với rượu bôi lên các vật dụng trong nhà từ cái cột, cái cửa, cái cuốc, cái rựa... Rồi thầy cúng cúng ngoài sân. Cây nêu cao hơn hai mét vươn cao, tiếng chiêng ngân khắp núi rừng mời gọi Giàng và các thần linh về chứng kiến. Mời Giàng và các thần linh về ăn thịt heo, uống rượu cần, phù hộ cho bon làng mọi điều tốt đẹp. Cầu xin lúa ngô chất cao như ngọn núi, con heo, con gà đầy đàn dưới chân núi, cầu nước suối người Mnông tràn khắp buôn làng...

Sau lễ cúng này, mưa đầu mùa sẽ mang những điều xấu xa, tai họa đi. Mưa sẽ gieo những hạt lành mang những điều tốt lành cho mầm cây lên xanh, cho mùa màng sung túc, cho dòng nước trong lành.

Tôi cúi xuống, nhìn đất Đắk Măng. Chợt thấy những hạt mầm bé xíu đang nảy chồi. Tôi khóc. Tôi ngước lên nhìn cây nêu cao vút như muốn chạm vào mây, thấy em như hòa vào trong vùng mây trắng bay. Tôi nấc:

- Vân ơi!

Dưới chân, tôi nghe tiếng đất cựa mình sinh sôi...


Tin liên quan